Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Hội nghị TW 7: Bàn nhân sự và hiến pháp


TIN ĐÀI BBC: HỘI NGHỊ TW 7 ( KHÓA XI ) CHỈ BẦU BỐ SUNG THÊM 1 ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ ĐỂ ĐỦ 15

Hội nghị TW 7: Bàn nhân sự và hiến pháp ( * )


Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI vừa khai mạc sáng thứ Năm 1/5 ( 2/5 )để bàn và quyết định sáu nhóm vấn đề lớn.

Thông tấn xã Việt Nam cho hay các ủy viên Trung ương sẽ "xem xét, quyết định, cho ý kiến về các vấn đề: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận; Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng; Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược; Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường".

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu khai mạc Hội nghị 7
Theo Chương trình của toàn khóa, Hội nghị 7 đáng ra bàn chuyên đề về công tác dân vận. Một nguồn khả tín nói với BBC rằng chương trình nghị sự nay thêm một số chủ đề khác; và đây là lý do mà Hội nghị 7 diễn ra chậm hơn kế hoạch khoảng một tuần.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì và có bài phát biểu khai mạc Hội nghị 7.

Tại hội nghị lần này, một bản dự kiến quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo sẽ được mang ra xin ý kiến.

Nguồn tin không chính thức nói con số ủy viên Bộ Chính trị khóa XI sẽ được tăng thêm một vị trí thành 15 trong thời gian tới.

Theo TTXVN, các ủy viên Trung ương "đã tích cực tham gia phát hiện, giới thiệu nguồn quy hoạch".

Bản tin của hãng thông tấn nhà nước cho hay "nguồn cán bộ khá dồi dào về số lượng, có đủ ba độ tuổi cho các chức danh".

Bộ Chính trị Đảng CSVN đã xem xét, thảo luận và có ý kiến sơ bộ về chức danh nhân sự dự kiến để thảo luận trong hội nghị 7 này.

Sau khi tổng hợp ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị sẽ căn cứ vào đó để ra quyết định chính thức.

Khác với Hội nghị 6, khi không khí căng thẳng với kết quả phê bình và tự phê bình của nhiều lãnh đạo chủ chốt, trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; hội nghị 7 dường như nhìn tới quy hoạch xa.

Kiên trì nguyên tắc trong Hiến pháp

Về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong phát biểu khai mạc Hội nghị 7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị các ủy viên Trung ương "bám sát Cương lĩnh của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 2 và Hội nghị Trung ương 5... nghiên cứu thật kỹ, thảo luận thật sâu các nội dung Báo cáo giải trình, tiếp thu vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mà Ủy ban sửa đổi Hiến pháp trình, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng".

TBT Nguyễn Phú Trọng nói về nguyên tắc trong sửa đổi Hiến pháp 92

Ông Trọng khuyến cáo "phải chân thành lắng nghe ý kiến của nhân dân, tiếp thu tối đa những ý kiến hợp lý".

Tuy nhiên ông nhấn mạnh cần "kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc về bản chất của chế độ chính trị và Nhà nước" và "tiếp tục khẳng định Nhà nước [ta] là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo".

Nguyên tắc khác mà ông tổng bí thư tái khẳng định là "tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nòng cốt là liên minh giai cấp công-nông và đội ngũ trí thức; quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…"

Ông Nguyễn Phú Trọng cũng nhắc nhở cần "tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp; chỉ sửa đổi, bổ sung những vấn đề thực sự cần thiết, đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm và có sự thống nhất cao".

"Đối với những vấn đề mới hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau, Trung ương cần xem xét, trao đổi thật kỹ để có phương án tiếp thu, giải trình phù hợp."

Với chỉ đạo nói trên, có thể thấy sẽ không có đột phá gì lớn so với dự thảo sửa đổi Hiến pháp mà Quốc hội Việt Nam đang trưng cầu ý dân tới tháng 9/2013.

Được biết Hội nghị 7 sẽ kéo dài tới 10/5.

(BBC)

( * ) Theo một nguồn thạo tin thì tin bầu thêm 1 ủy viên BCT của BBC là không chính xác; Hội nghị này sẽ bầu thêm 3 ủy viên trong số 5 ủy viên được đề cử...

TỔNG THỒNG IRAN VỪA BỊ BẮT


TỔNG THỒNG IRAN VỪA BỊ BẮT

Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadineja bị bắt và bị giam trong 7h đồng thời được cảnh báo không tiết lộ những thông tin có thể tổn hại tới Chính phủ Hồi giáo ở nước này. 

Iran, bắt giữ, Tổng thống
Ông Mahmoud Ahmadinejad
Ông Mahmoud Ahmadinejad bị lực lượng vệ binh cách mạng giam giữ trong 7h hôm 29/4 và được yêu cầu không để lộ việc chính phủ đã gian lận tại cuộc tổng tuyển cử gần đây nhất cũng như các cáo buộc gian lận chống đối thủ chính trị.

Các nguồn tin cho hay, sau chuyến thăm Hội chợ sách quốc tế lần thứ 26 ở Tehran hồi đầu tuần này, đội trưởng đội an ninh của người đứng đầu Iran được lệnh ông Ahmadinejad phải có mặt tại văn phòng lãnh đạo tối cao Ali Hosseini Khamenei vì một việc khẩn.

Trên đường tới chỗ họp, liên lạc giữa nhóm an ninh của đoàn xe Tổng thống bị tắc trong khi có ba chiếc xe khác gia nhập đoàn xe, chỉ dẫn xe đi đầu đi theo hướng khác. Ông Ahmadinejad thay vì được đưa tới văn phòng lãnh đạo tối cao, lại được đưa tới một địa điểm bí mật nằm ở một trong những tòa nhà thuộc về Bộ Ngoại giao, hiện nằm dưới sự kiểm soát của đơn vị tình báo thuộc lực lượng vệ binh cách mạng.

Ngay khi ông Ahmadinejad rời xe, ông và đội an ninh đã có một cuộc đấu khẩu với các thành viên của lực lượng vệ binh cách mạng. Tiếp đó, đội bảo vệ của Tổng thống bị tước súng, thiết bị liên lạc bị tịch thu và ông Ahmadinejad bị ép bước vào văn phòng của Hossein Taeb, người đứng đầu đơn vị tình báo, nằm bên dưới tòa nhà.

Trong khi đó, nhiều phụ tá của Tổng thống ở Tehran bị xét hỏi về sự hiện diện của các tài liệu có thể gây tổn hại cho chính quyền hiện nay. Sau khi bị thẩm vấn, ông Ahamadinejad được thả.

Các nhà ngoại giao Anh và Mỹ tại khu vực đều biết sự việc trên và rất thích thú theo dõi.

Vụ bắt giữ diễn ra vài giờ sau khi một hãng tin thuộc chính quyền nước này cho hay, ông Ahmadinejad dọ sẽ công bố các đoạn ghi âm chứng tỏ cử tri trong cuộc bầu cử năm 2009 bị lừa, trước khi tổng tuyển cử diễn ra ở nước này vào tháng tới.

Đây là diễn biến mới nhất trong quan hệ đang xấu đi giữa ông Ahmadinejad và lãnh đạo tối cao, các đối thủ chính trị - những người cho rằng lập trường chính trị của ông này đang chuyển từ bảo thủ truyền thống sang cánh hữu.

Hoài Linh

(Theo WN, DailyMail)
( Tintuchangngayonline )

Đấu giá vàng chỉ đem lại lợi ích cho những ‘ông’ lớn’


Đấu giá vàng chỉ đem lại lợi ích cho những ‘ông’ lớn’

imagesTheo sự đánh giá của nhiều chuyên gia, những chính sách của Ngân hàng Nhà nước (NNHN) trong thời gian qua khiến cho mục tiêu bình ổn thị trường vàng dường như ngày càng xa.
Thậm chí có người còn cho rằng thị trường vàng trở nên khó kiểm soát là hệ quả của sự can thiệp hành chính quá mức của NHNN. Hậu quả cuối cùng là người dân chịu thiệt.
Thanh tra chính phủ vào cuộc
Trước tình trạng thị trường vàng trong nước biến động lớn với những cơn lên xuống giá ngoài tầm kiểm soát, mới đây thanh tra Chính phủ cho biết sẽ tiến hành thanh tra hoạt động điều hành của NHNN từ thời kỳ năm 2009 đến hết tháng 3/2013.
Đặc biệt hoạt động thanh tra sẽ hướng đến năm 2012, đây cũng là năm NHNN tham mưu soạn thảo để Chính phủ ban hành Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Với nghị định 24 vàng SJC trở thành thương hiệu vàng quốc gia với hơn 90% thị phần, còn các doanh nghiệp vàng khác chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn. Cũng chính từ đây phát sinh nhiều vấn đề như vàng nhái SJC, thêm phí chuyển đổi bao bì, phí gia công, vàng SJC cao hơn vàng thế giới 4-6 triệu đồng/lượng trong khi vàng các hãng khác chỉ ngang bằng thế giới thậm chí thấp hơn…
Trong nỗ lực kéo giá vàng trong nước tiệm cận với giá vàng quốc tế, NHNN lại tiếp tục tung ra chính sách đấu thầu vàng miếng. Cũng trái với mong muốn của các nhà quản lý, tính đến ngày 24/4, hơn 12 tấn vàng (315.000 lượng – tương đương 1.500 tỉ đồng) đã được NHNN tung ra trong các phiên đấu thầu và được tiêu thụ hết, nhưng giá vàng trong nước không những không giảm mà ngày càng bỏ xa giá vàng thế giới đến gần 6,5 triệu đồng/lượng. Đại diện của NHNN, ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối giải thích rằng giá vàng thế giới giảm mạnh nhưng giá vàng trong nước điều chỉnh không kịp khiến mức chênh lệch giá cao.
Nhiều người đặt ra câu hỏi, tại sao trước khi đấu thầu giá vàng trong nước cao hơn thế giới 2-3 triệu đồng/lượng vàng, đến khi NHNN can thiệp, tung ra hơn 12 tấn vàng mà người dân vẫn phải mua vàng với giá cao hơn giá thế giới tới 6 triệu đồng có thời điểm là gần 7 triệu đồng.
Vậy “núi vàng” kia chảy đi đâu? Ông Trần Thanh Hải, tổng giám đốc Công ty Đầu tư và kinh doanh vàng VN (VGB) cho hay trước đây các ngân hàng huy động vàng trong dân vào rồi bán vàng để đổi ra tiền đồng cho vay với lãi suất có thời điểm lên đến hơn 20%/năm kiếm lời. Nay họ phải mua để trả lại cho người gửi vàng trước thời điểm 30/6. Vì thế việc đấu thầu vàng thực chất chỉ để bù đắp lại số vàng huy động của dân trước đây chứ không thể bình ổn được thị trường ngay cả sau thời điểm 30/6 khi các ngân hàng hoàn tất việc đóng trạng thái. Chính vì thế dù NHNN có “núi vàng” khổng lồ thì cũng không thể chảy đến được với người dân. Nó vẫn nằm trong kho dự trữ của các ngân hàng để trả cho người gửi tiết kiệm.
Đánh giá về chính sách điều hành thị trường vàng của NHNN trong thời gian qua, TS. Phạm Đỗ Chí, chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng việc quản lý vàng trong thời gian qua gây hỗn loạn một thị trường vốn được coi là linh hoạt trong tập quán kinh tế của người dân Việt (có thói quen giữ vàng). Ông lo ngại nếu cứ ra sức can thiệp bằng biện pháp hành chính thì nền kinh tế lâm vào thế tê liệt. Những hành động của ngân hàng Nhà nước trong những năm qua như độc quyền Nhà nước về vàng, khống chế ngân hàng, điều khiển thị trường tín dụng theo mệnh lệnh hành chính… đã và đang làm nghẽn mạch hệ thống tiền tệ.
Đồng quan điểm với TS. Phạm Đỗ Chí, TS. Nguyễn Thị Hiền, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, sở dĩ thị trường vàng trở nên khó kiểm soát như hiện nay là do hệ quả của sự can thiệp hành chính quá mức của Ngân hàng Nhà nước. Và bà hết sức khó hiểu khi NHNN lúng túng điều hành thị trường vàng.
Đem lại lợi ích cho ai?
Việc thanh tra Chính phủ vào cuộc trước thực tế thị trường vàng đang trở nên khó kiểm soát như hiện nay được dư luận xã hội cũng như các chuyên gia kinh tế đầu ngành ủng hộ. Mong muốn qua đợt thanh tra này sẽ tìm ra nguyên nhân gây nên sự biến động vô lý của thị trường vàng. Trả lại vàng về đúng thị trường của nó.
TS. Phạm Đỗ Chí cho rằng NHNN cần lo những vấn đề nóng bỏng như giải quyết nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng… Nhưng hiện nay NHNN lại chuyên tâm vào định giá vàng, buôn bán vàng trong khi giá vàng là do thị trường quyết định. NHNN không thể ngồi họp mỗi sáng để quyết định giá vàng, nhất là khi giá vàng biến động từng giờ từng phút. Nói một cách hình ảnh đó là NHNN đang đứng trong một cái nhà cháy mà không lo cứu, chỉ nhăm nhăm tìm chổi để quét nhà cho sạch.
Trao đổi với PV, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long (Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Thị trường Giá cả) nhận định các định mức giá vàng trong nước điều chỉnh chậm hơn so với thế giới là không hợp lý. Bởi lẽ điều hành giá vàng khác với giá xăng dầu. Nếu như xăng dầu dự báo và đặt hàng trước cả tháng thì vàng đặt lệnh ngay thời điểm chào giá, không phụ thuộc vào khâu dự báo giá. Do đó NHNN có thể định giá sát với giá thế giới, kiểm soát doanh nghiệp đấu thầu.

Việt Nam có thực tâm hòa hợp và cả hòa giải dân tộc?



Việt Nam có thực tâm  hòa hợp và hòa giải  Dân Tộc ?

Phạm Chí Dũng gửi RFA
2013-05-01
Vẫn còn “tài nguyên nhân quyền” đặt lên bàn đàm phán quốc tế, chủ đề hòa hợp và có thể cả hòa giải dân tộc lại đang được Hà Nội nhắc đến. Chỉ có điều, bối cảnh hiện thời khác xa so với gần một thập niên trước.
Biến đổi quan niệm
Dường như đã thấm thía ý nghĩa của mối quan hệ “song phương” và có thể cả đa phương hóa, gần mười năm sau nghị quyết số 36 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, giới chức lãnh đạo của quốc gia này mới hé cửa về triển vọng “hòa hợp dân tộc”.
Cũng tràn ngập ý nghĩa và không kém ấn tượng, bài phỏng vấn Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn do báo Thanh niên thực hiện với tiêu đề “Hòa hợp tạo ra sức mạnh cho dân tộc” đúng vào ngày 30/4 – kỷ niệm 1năm thứ 38 của “Bên thắng cuộc”, đã phác họa những nội dung chưa từng có tiền lệ kể từ năm 2004.
2004 – thời điểm mà nghị quyết 36 của Bộ chính trị ra đời, cũng là một “thời kỳ quá độ” mà Việt Nam tích cực vận động để “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được tô điểm thêm một sắc thái mới: thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Vào thời kỳ quá độ trên, chủ đề hòa hợp hòa giải dân tộc cũng đã được nêu ra, nhưng thể hiện một cách đầy chắt lọc chứ không phổ cập đại chúng trên báo chí trong nước như những ngày qua.
Độ lượng hơn trong ít nhất việc chọn lọc “đối tượng”, hòa hợp dân tộc đang biến diễn trong bối cảnh Việt Nam nhiệt thành xúc tiến cho một cuộc thương thuyết mới sau “phong trào” WTO: gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Tất nhiên, kinh tế có thể đóng vai vế làm biến đổi cả quan niệm chính trị.
“Cái nhìn hết sức tích cực”
Sau gần mười năm từ năm 2004, một quan chức có trọng trách về ngoại giao và cũng là chủ nhiệm của Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – ông Nguyễn Thanh Sơn, đã lần đầu tiên dẫn ra một quan niệm mới “Do hoàn cảnh lịch sử mà kiều bào ta vẫn còn một bộ phận mà ngày xưa chúng ta vẫn gọi là “phản động”. Quan điểm của tôi là không nên gọi như thế”.
Trong bài trả lời phỏng vấn báo Thanh niên, nhân vật số hai của Bộ ngoại giao Việt Nam đã “giải mật” một nội dung mà vẫn thường mang nặng dấu ấn cơ mật vào “ngày xưa”, khi ông tiết lộ việc thông qua Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán Việt Nam ở Mỹ, vào tháng 10/2012 ông đã có những cuộc tiếp xúc tại Washington, Houston, California, quận Cam với “các cá nhân, tổ chức còn chống đối, có tư tưởng hận thù với đất nước” *, trong đó có những thủ lĩnh, nhân vật “chống cộng khét tiếng’” như Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Thành Quang, Võ Đức Quang, Đức Nguyễn, Thôn Thất Chiếu, Đông Duy, Nguyễn Á Độc Lập, Hoàng Duy Hùng…
Riêng đối với nhân vật Hoàng Duy Hùng, ông Sơn khen ngợi: “Vấn đề mà chúng ta từng lo ngại là các thành phần chống cộng cực đoan đã ngày càng giảm đi. Một trong những người cực đoan nhất như ông Al Hoàng (Hoàng Duy Hùng) vừa qua cũng đã được về nước và ông ấy đã có những cái nhìn hết sức tích cực như các anh (phóng viên) đã biết”.
Người được khen tặng – Hoàng Duy Hùng, một nghị viên của Thành phố Houston đặc trách về châu Á – đã có chuyến về thăm Việt Nam vào cuối tháng 3, đầu tháng 4/2013 qua lời mời của Bộ ngoại giao Việt Nam và của thành phố Đà Nẵng – đô thị được xem là “nơi đáng sống nhất Việt Nam” và đang có mối quan hệ kết nghĩa với Houston.
“Tôi e ngại rằng nhiều đảng phái quá sẽ không xây dựng được đất nước, nên tôi cho rằng hệ thống lưỡng đảng ở Hoa Kỳ đem áp dụng cho Việt Nam là tốt nhất, và đó cũng là sự “hợp nguyên”. Suy cho cùng, hệ thống lưỡng đảng là tương đối ổn thỏa nhất để xây dựng và phát triển Việt Nam” – ông Hoàng Duy Hùng đã nêu ra “cái nhìn hết sức tích cực” khi trả lời BBC tiếng Việt cũng vào ngày 30/4/2013 – thời điểm mà Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn hé cửa “hòa hợp dân tộc” trong trả lời phỏng vấn báo Thanh niên.
Nghị viên Houston Hoàng Duy Hùng còn đề nghị một phương án hết sức táo bạo: nếu Đảng cộng sản Việt Nam thuận theo sự tiến bộ và tách thành hai đảng, thí dụ Đảng cộng hòa (bảo thủ) và Đảng xã hội hay Đảng dân chủ (cấp tiến), thì đó chính là đột phá của lịch sử để giải quyết nhiều bế tắc trong nhiều năm qua ở ngay trong nội bộ Đảng cộng sản cũng như của chính những người bất đồng chính kiến và ở hải ngoại. Lúc đó, những người bất đồng chính kiến có thể tham gia một trong hai đảng mà không cảm thấy khó khăn.
Khá bất ngờ là chính trường Việt Nam, với những ẩn dụ chưa định hình, đang lần đầu tiên tạm chấp nhận sự hiện diện và cả phát ngôn của một nhân vật “khét tiếng chống cộng”.
Việt Nam dân chủ cộng hòa?
Cũng khá bất ngờ đối với người dân trong nước và còn đột ngột hơn với giới trí thức hải ngoại, tháng 4/2013 lại khởi đầu cho một “đột phá lịch sử” nào đó giữa Nhà nước với thành phần trí thức “bất đồng” ở Việt Nam, nhưng không được kích hoạt một cách trực tiếp, mà bằng vào sự hồi tưởng lịch sử năm 1946: Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Quay về tên nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa” cũng là một trong những nội dung cải cách chính trị của nhóm “Kiến nghị 72”.
Điều đáng ngạc nhiên là trong bối cảnh chỉ mới từ tháng 3/2013 trở về trước, khi việc sửa đổi Hiến pháp vẫn không chấp nhận các ý kiến trái chiều, thì trong một buổi tọa đàm lấy ý kiến Hiến pháp tại TP.HCM diễn ra sau đó không lâu, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã cho rằng “cần phải tiếp thu ý kiến nhiều chiều”.
Ý kiến đề xuất của một số nhân sĩ và cả giới chức mặt trận về việc đổi tên nước cũng vì thế được lưu tâm hơn. Trong số nhân sĩ này, có cả những người bất đồng chính kiến và những người mà “ngày xưa” còn bị cơ quan an ninh xem là “đối tượng chống đối”.
Nhưng chỉ mới đây thôi, có vẻ cách nhìn và thái độ của các cơ quan “đặc vụ” đã trở nên dịu dàng hơn nhiều. “Tôi cũng có quan hệ rất tốt với các cơ quan quốc phòng, công an và các anh ấy cũng rất ủng hộ tôi khi có đột phá vào những chuyện vẫn bị coi là nhạy cảm” – Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn trần tình trong trả lời báo Thanh niên.
Ông Sơn cũng gián tiếp khơi gợi về một sự kiện không kém ẩn ý trong thời gian qua: “Tại sao năm 1946 khi Bác (ông Hồ Chí Minh) đi thăm Pháp trong bối cảnh đất nước thù trong, giặc ngoài mà Bác không chọn bác Phạm Văn Đồng hay bác Võ Nguyên Giáp là quyền chủ tịch nước, mà lại ủy nhiệm cho cụ Huỳnh Thúc Kháng vị trí đó? Trong những lúc đất nước lâm nguy, khó khăn thì hơn bao giờ hết tinh thần đại đoàn kết dân tộc được thể hiện qua sức mạnh dân tộc trong các thành phần dân tộc, các tầng lớp trong xã hội. Người được lựa chọn không phải là người ở trong chính đảng mà Bác thành lập, mà là một chí sĩ yêu nước có uy tín lớn, đủ khả năng lãnh đạo đất nước”.
Vào trung tuần tháng 4/2013, sau khi đề xuất đổi tên nước được bất thường khởi xướng và có dấu hiệu lan rộng, một buổi lễ truy tặng huân chương Sao vàng cho chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng đã được tổ chức tại huyện ủy Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, với sự chủ trì của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Thực ra, tình cảm tri ân lịch sử của ông Sang đã được thể hiện qua bài viết “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân” của ông vào tháng 8/2012, trước khi diễn ra Hội nghị trung ương 6 đầy sôi động.
Hòa giải?
Hướng về lịch sử chiến tranh Nam – Bắc cũng đang là tinh thần nổi trội sau gần mười năm mà nghị quyết 36 của Bộ chính trị vẫn bị nhiều nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước xem là “chưa đi vào thực tiễn”. Một trong những chủ trương có tính lịch sử như thế liên quan đến nghĩa trang quân đội Việt Nam cộng hòa ở tỉnh Bình Dương.
“Hai quân đội từng đối địch nhau, để như vậy càng tạo thêm sự xung đột sau này, cho nên chuyển thành nghĩa trang dân sự là rất đúng” – Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn giải đáp một cách không quá thiên về thói quen ngoại giao.
“Lần đầu tiên một quan chức Việt Nam bày tỏ nghĩa cử tưởng nhớ đối với tử sĩ Việt Nam cộng hòa, những chiến binh của phía thua cuộc” – báo chí phương Tây bình luận về sự hiện diện “đến thăm và thắp hương” của Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn tại đài tưởng niệm bằng đá đen mới được dựng lên trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa cũ ở tỉnh Bình Dương, nơi chôn cất 16.000 binh lính Việt Nam cộng hòa đã tử trận.
Sự kiện đáng nhớ trên lại diễn ra vào tháng 3/2013, ngay trước khi xuất hiện một sự kiện khó quên khác: giáo sư Michael Dukakis – cựu ứng viên tổng thống Mỹ năm 1988, hiện là Chủ tịch Diễn đàn toàn cầu Boston – đã phát biểu đầy sôi nổi tại Học viện chính trị – hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: “Các bạn là một dân tộc điển hình về hòa giải, hòa hợp sau chiến tranh, nỗ lực xây dựng một thế giới tránh xung đột”.
Dù vẫn thận trọng và chỉ dùng từ “hòa hợp” mà không có phụ ngữ “hòa giải”, nhưng lời lẽ trong nội dung trả lời phỏng vấn của Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn lại như toát lên một hàm ý nào đó về cả sự hòa giải dân tộc – điều chưa từng hiện diện một cách thực tâm và thực chất trong gần bốn chục năm qua giữa Nhà nước Việt Nam với “các thế lực thù địch”.
Cho tới giờ, người ta đã có thể giải thích vì sao trong không khí nhang khói tại nghĩa trang quân đội Việt Nam cộng hòa vào tháng 3/2013, lại có mặt một trong những đại diện của “thế lực thù địch ấy” – ông Nguyễn Đạc Thành, nguyên thiếu tá quân lực Việt Nam cộng hòa, cựu tù cải tạo và hiện là Chủ tịch Hội Vietnamese American Foundation, bên cạnh “Người thắng cuộc” Nguyễn Thanh Sơn.
Nếu kinh tế có thể làm biến đổi quan niệm chính trị, thì quan niệm ấy cũng có thể khiến đổi khác những hành động về ý thức hệ.
Đó cũng là lý do giải thích cho một hành động rất mới mẻ là chính vào bối cảnh “rất nhạy cảm” như hiện nay, tờ báo Thanh niên của Trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh lại có đủ can đảm để nêu ra một câu hỏi đặc biệt đối với Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn: “Bài học lịch sử ấy (thời kỳ đầu xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa), theo ông, có thể áp dụng thế này vào hiện tại để tập hợp những con người có thể có quan điểm, chính kiến khác nhau vì mục tiêu phát triển của đất nước?”.
Rất có thể đây là lần đầu tiên từ rất nhiều năm qua, một tờ báo “quốc doanh” lộ ra mối quan tâm với những người bất đồng chính kiến mà không bị Ban tuyên giáo trung ương “tuýt còi”.
Tài nguyên nhân quyền!
Trong Việt Nam đương đại, chủ đề “Phát triển đất nước” là một bài toán quá nhiều ẩn số với xuất phát điểm của quá nhiều nguyên nhân, mâu thuẫn và xung đột thuộc về nội tại.
Chìm trong suy thoái và gần như cạn kiệt về sức hồi sinh, nền kinh tế Việt Nam và những người điều hành nó đang phải bằng nhiều cách tìm ra lối thoát.
Nếu Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn dường như đang cố gắng thể hiện “gương mặt ôn hòa” với kỳ vọng có thể thu hút từ 10 đến 20 tỷ USD kiều hối từ 4,5 triệu “kiều bào ta”, thì sau gần mười năm, nghị quyết số 36 của Bộ chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn rất xa mới đạt được ý nghĩa trọn vẹn về hình thể và nhân cách của nó.
Cũng gần như cạn kiệt tài nguyên, ngoài dầu khí ở khu vực biển Đông, Việt Nam đang tụt hậu quá xa so với Myanmar trong nhãn quan lợi nhuận của giới tư bản quốc tế.
Trong bối cảnh đầy ám ảnh như thế, hiển nhiên lời đánh đố về tính hấp dẫn mang tính cứu cánh của TPP như “Việt Nam sẽ là nước được hưởng lợi nhiều nhất”, cũng như kết quả đàm phán gia nhập tổ chức này của Việt Nam, vẫn là một cái gì đó không thể không liên đới với khuyến cáo mới đây của tiến sỹ Jonathan London của Trường đại học tổng hợp Hồng Kông, trong một cuộc hội thảo tại Trường đại học Phạm Văn Đồng (tỉnh Quảng Ngãi): “Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để chọn con đường cải cách, đẩy mạnh cải cách chính trị để thu hút hậu thuẫn cho chủ quyền của mình ở biển Đông”.
Ứng với những động thái khá cấp tập “vừa tranh thủ vừa đấu tranh” nảy ra trong các mối quan hệ Việt – Mỹ và Việt Nam – Liên minh châu Âu, vào lần này hình như chủ quyền lại đồng nghĩa với quyền con người.
Thường được mô tả như “một thị trường tiêu thụ tiềm năng với hơn 80 triệu người”, Việt Nam cũng còn một thứ tài nguyên đặc chủng để đặt lên bàn đàm phán quốc tế: tài nguyên nhân quyền.
Một lần nữa từ nhiều năm qua và sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ tái lập ở Hà Nội vào giữa tháng 4/2013, chủ đề hòa hợp và có thể cả hòa giải dân tộc được Hà Nội nhắc đến.
Chỉ có điều, bối cảnh hiện thời đang khác xa so với gần một thập niên trước.
P.C.D.

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013

TRỤC XOAY NHÂN SỰ THEO “VẦN Ê”


TRỤC XOAY NHÂN SỰ THEO “VẦN Ê”


 * BÙI VĂN BỒNG
         Được biết, Hội nghị Trung ương 7 lần này có nội dung bàn và quyết về nhân sự...    
        Từ những biểu hiện trên thực tế, người ta thấy từ Trung ương đến địa phương, ở các cấp, các ngành ngày càng gia tăng những hiện tượng vi phạm các nguyên tắc, quy định về công tác cán bộ của Đảng. Dư luận xã hội hiện nay đã nêu khá phổ biến hiện tượng, đặt vấn đề trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc bổ nhiệm, đề bạt, cất nhắc cán bộ đang tồn tại theo công thức để có cái kết trong cái trục xoay theo “vần Ê” theo thứ tự ưu tiên trước-sau là: HẬU DUỆ, TIỀN TỆ, CÙNG HỆ, HỢP LỆ rồi sau cùng mới đến TRÍ TUỆ. Đây được gọi là sự sắp đặt sẵn của “Ngũ kế vần Ê trong công tác cán bộ”.
               Trong bất kỳ thể chế chính trị nào, người nắm quyền (từ thấp đến cao) đều giữ vai trò trọng yếu, mang tính quyết định. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định” (HCM). Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ phương hướng về công tác cán bộ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ…Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài…Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa…Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương”.
Trong phương hướng nhiệm kỳ 2011-2015, Nghị quyết Đại hội XI nhấn mạnh cần phải: “Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; loại trừ khả năng để cán bộ và người thân của cán bộ lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi”. Và mới đây nhất, Nghị quyết Hội nghị T.Ư 4 cùng chỉ ra: “Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước”. Trong 19 điều quy định Đảng viên không được làm, có điều thứ 10 quy định đảng viên không được “Can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được bổ nhiệm, đề cử, ứng cử, đi học, đi nước ngoài trái quy định”…
Báo cáo tại đại hội như thế, nghị quyết “bung ra” như thế. Nếu chỉ đọc các nghị quyết thấy đúng, đủ, hay, sát thực tế, nêu thực trạng, chỉ rõ việc cần làm. Vậy mà, khi đi vào cuộc sống, vẫn là “Nói dzậy, mà hổng phải dzậy”. Cán bộ quyết định hết thảy mọi việc, vì vậy công tác cán bộ phải đi đúng đường lối, đúng nghị quyết, điều lệ của Đảng. Trong chế độ ta, cán bộ là người nhận trách nhiệm trước Đảng, chính quyền để phục vụ nhân dân, “là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, phải thật sự là công bộc của dân. Mục tiêu của công tác cán bộ phải thường xuyên coi trọng bảo đảm dân chủ, khách quan, khoa học, đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội, sản xuất kinh doanh thực sự có chất lượng, hiệu quả, thúc đẩy kinh tế -xã hội phát triển. Cho nên, việc đào tạo, thử thách, tạo nguồn, chọn lọc đội ngũ, phân công bổ nhiệm, cất nhắc, giao nhiệm vụ, chức trách cho cán bộ phải thật sự dân chủ, chuẩn xác, trung thực, khách quan. Thế nhưng, từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng đã bộc lộ những yếu kém trong lãnh đạo, thực thi công tác cán bộ.
Công tác quy hoạch nêu ra rất nhiều, nghị quyết, chỉ thị, thông tri cũng không thiếu như đã đề cập ở trên, vậy mà trong thực tế hầu như chỉ nằm trên giấy, vẫn như một sự nhắc nhở, kêu gọi, chưa đem lại nhiều hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội. Nhìn lại, có thể thấy hầu như việc xây dựng quy hoạch công tác cán bộ chưa thực sự đi vào nền nếp, chưa có tính khoa học, còn tùy tiện và không thường xuyên, mới tập trung thực hiện ở cấp đảng ủy cơ sở, chưa xây dựng được quy hoạch ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ thật đúng người, đúng việc. Hơn thế nữa, như Nghị quyết Đại hội XI và Hội nghị T.Ư 4 đã đánh giá rất thẳng thắn và khách quan: Có không ít trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, bố trí không đúng sở trường, năng lực, mà còn nặng về “quan hệ thân, quen”, chạy chọt ,ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước. Trong việc đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ vẫn còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém. Vì thế, công tác cán bộ còn thiếu và mất dân chủ, không thực sự công bằng, còn biểu hiện bè phái, thiếu trong sáng, không minh bạch, thiếu khách quan, toàn diện và sai nhiều nguyên tắc trong công tác cán bộ…
Cũng từ những biểu hiện trên thực tế, người ta thấy từ Trung ương đến địa phương, ở các cấp, các ngành ngày càng gia tăng những hiện tượng vi phạm các nguyên tắc, quy định về công tác cán bộ của Đảng. Dư luận xã hội hiện nay đã nêu khá phổ biến hiện tượng, đặt vấn đề trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc bổ nhiệm, đề bạt, cất nhắc cán bộ đang tồn tại theo công thức để có cái kết trong cái trục xoay theo “vần Ê” theo thứ tự ưu tiên trước-sau là: HẬU DUỆ, TIỀN TỆ, CÙNG HỆ, HỢP LỆ rồi sau cùng mới đến TRÍ TUỆ. Đây được gọi là sự sắp đặt của “Ngũ kế vần Ê trong công tác cán bộ”.
Về HẬU DUỆ: Trước hết phải quan tâm ưu tiên đề bạt, cất nhắc, bố trí, sắp xếp để có ghế “ngon” cho con, em những vị lãnh đạo đương chức, đương quyền. Trong một vài nhiệm kỳ, họ đều phải nghĩ kế, tìm cách làm sao sắp xếp, chọn ghế “tốt” cho con, em và nhiều khi cả cháu trong gia đình, dòng tộc nội, ngoại. Thế nên, người ta mới đúc kết công thức nhân sự 20C là: “Con cháu các cụ cả, cần chăm chút, coi cơ cấu, chọn chỗ cho chúng có cái chức chủ chốt”. Những nhân sự trong diện này mà được bậc trưởng thượng đã có ý định rõ ràng, có chủ đích “cắm chỗ”, được chú ý quan tâm thì chắc chắn là hưởng lộc chính trị ngon lành, “bỏ cối không trật”. Đây được coi là hạng Nhất, chất lượng tiêu chuẩn Vàng.
         Kế đến là, ưu tiên thứ nhì phải là tiêu chuẩn TIỀN TỆ, tức là tình trạng mua chức, mua quyền. Không ít trường hợp ông A, bà B bỗng chốc xuất hiện chức danh này, vị trí kia mà thiên hạ thấy lạ hoắc, như dưới đất chui lên trên trời rơi xuống. Học hành chưa đâu vào đâu, bằng cấp thì mánh lới chạy chọt, phải mua mới có, công lao, thành tích, năng lực chẳng có bao nhiêu, không thấy đưa ra “hỏi ý đồng bào”, không được dân bầu, dân cử, nhưng bỗng nhiên thây lù lù cái quyết định bổ nhiệm sáng rỡ. Tiêu chuẩn Quốc tế mang tên ISO là chuyên xét để công nhận tiêu chuẩn hóa chất lượng sản phẩm trong sản xuất, thương mại và thông tin. Nhưng nếu xét về tiêu chuẩn cán bộ mà tạm gọi cũng ISO – 1001 (có 1001 chuyện về công tác cán bộ, kể hoài không hết), vì đồng tiền vòng vèo trăm nẻo, đi lối nào có trời mà biết. Đây là chất lượng tiêu chuẩn Bạc.
        Thứ ba là CÙNG HỆ: (Thường là Nhóm lợi ích) Phải là có phe cánh, ê kíp, cùng nhóm lợi ích với nhau. Trong tiêu chuẩn cùng hệ này phải quan tâm chọn lọc, bồi dưỡng, cất nhắc, bổ nhiệm trong số những người vốn có mối quan hệ thân quen, mối làm ăn từ trước và nhất là hiện tại, có ngang tầm về chính trị, tư tưởng, quan điểm, nhận thức; lại phải có đạo đức, lối sống, tác phong, tính cách hợp nhau, phải biết cùng ăn cùng chịu, cùng hưởng, cùng chia, chấp nhận và biết cách vào hùa chung hụi. Cái tiêu chuẩn cùng hệ này có kiểu dáng na ná như “môn đăng hộ đối”, cùng cảnh (về mức sống, khả năng kinh tế) với nhau. Mọi việc, kể cả việc làm sai trái cũng phải biết “đồng thanh tương ứng, đồng khí tường cầu”, khi gặp những tình huống cần thiết phải biết “ứng hiệp” cho nhau, bảo vệ nhau. Nhưng trước hết của sự đồng ứng cùng hệ phải có vốn, đất đai, trang trại, xe cộ, nhà cửa phải tương đương nhau, thì mới “dễ chơi”, dám và biết chịu chơi. Nếu bầu bán mà cùng hệ, dù là hệ gì chăng nữa, trong chi bộ có số đông cùng hệ thì chắc chắn số phiếu bầu sẽ cao. Cái này không gọi là dân chủ được, mà coi như một dạng “hiệp chủ”. CÙNG HỆ  được xếp ở hàng tiêu chuẩn Đồng.  
        Thứ tư là HỢP LỆ:  Là muốn sắp xếp ông A, bà B, cậu ấm C, cô chiêu D vào các chức danh, có ghế đàng hoàng, phải tìm cách hợp thức hóa hồ sơ, thủ tục, phải qua ý kiến đề xuất của Hội đồng nhân dân hẳn  hoi, có khi chỉ cần vài văn bản đề xuất của Mặt trận, công đoàn, đoàn thanh niên, miễn là phải được phết lên một thứ nước sơn “dân chủ” để hợp thức hóa việc bổ nhiệm. Cái tiêu chuẩn hợp lệ này bắt nguồn từ những mối quan hệ cá nhân, những cách nhìn nhận, xem xét tùy tiện, lối làm việc vô trách nhiệm, cảm tình và cảm tính vượt lên mọi quy trình, quy hoạch, quy định, nguyên tắc.
Cuối cùng, áp chót, mới đến tiêu chuẩn TRÍ TUỆ. Những người thông minh, được đào tạo chính quy, học hành bài bản, bằng cấp nghiêm chỉnh, thực sự tỏ ra có năng lực, được quần chúng tín nhiệm, tin phục, kỳ vọng thì lại ít được quan tâm, và cũng không còn chỗ, vì các tiêu chuẩn trên đã choán mất gần hết  ghế rồi. Những người này phần lớn thuộc thành phần con em lao động, không quyền thế, không thân thích, ít có mối quan hệ, lại không biết chạy cửa này cửa kia, thì khó có điều kiện được đưa vào nguồn hoặc được sắp chỗ để phấn đấu, cống hiến. Tất nhiên cũng không loại trừ có những người thuộc diện này có số được ăn may mưa móc, tức là được cơ quan tổ chức Đảng, ngành nội vụ phát hiện, đạt được sự khách quan, công minh, xuất phát từ nhu cầu nhiệm vụ một cách vô tư. Nhưng hầu như ít lắm, “ăn may” nhằm vào lúc đơn vị tiếp nhận cân “cân đối” cán bộ để tránh tiếng thôi!
        Hệ lụy cuối cùng của “Ngũ kết vần Ê” trong công tác cán bộ là phải gặt về vần Ê tương xứng, và đói trọng, là bị xã hội PHÊ, CHÊ. Chắc chắn hậu quả để lại là công việc bị TRẦM BÊ, TRÌ TRỆ, không còn đáp ứng được mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ-công bằng-văn minh, như ta vẫn đọc thấy phần kết luận ở các nghị quyết bất kỳ đại hội nào, như lời hô hào nghe sang sảng trên nghị trường, trên bục phát biểu hội nghị. Mà đã như vậy, biết bao giờ mới đạt được mục tiêu đưa ra rất hợp lòng người với tiêu chí đã thành khẩu hiệu quá quen: “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”!?
BVB

MỘT BÀI VIẾT RẤT HAY NÊN ĐỌC


MỘT BÀI VIẾT RẤT HAY NÊN ĐỌC

Muốn thắng được đối thủ thì phải hiểu đối thủ tận chân tơ kẻ tóc và phải biết học tập cái hay của họ. Đừng có chửi bừa cho hả giận rồi thôi.(HNC)
Thư tâm tình gửi các bạn chống cộng quá khích

Cra-29.wct&j=3d300&u=3d275&mp=3d1&d=3d100Nhân đọc bài Trách nhiệm với non sông của ông Bằng Phong Đặng Văn Âu, tôi viết thư này muốn trao đổi, tâm sự với các bạn chống cộng quá khích, nếu bạn không phải là những người chống cộng quá khích thì không nên đọc
Tôi sinh trưởng ở một tỉnh miền Bắc, vào quân đội, ra chiến trường nhưng không tham gia đơn vị chiến đấu mà ở đơn vị hậu cần. Vì vậy tôi chưa hề bắn súng vào bất kỳ ai. Tuy nhiên, trongmột đợt ném bom của không quân Mỹ tôi bị thương, không nặng lắm, được đi điều trị, khi trở lại đơn vị thì miền Nam đã giải phóng. Tóm lại, cuộc sống của tôi cũng bình thường như nhiều người khác. Vào mấy năm gần đây, gia đình tôi nằm trong diện phải giải phóng mặt bằng. Nói thế chắc các bạn biết rồi. Tôi gia nhập vào nhóm những người được gọi là dân oan, thường xuyên đến trước cổng cơ quan nhà nước đòi giải quyết quyền lợi mà chưa biết đến bao giờ mới xong.
Ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, tôi làm quen với nhiều người dân oan khác, tìm hiểu hoàn cảnh của họ. Hóa ra không phải chỉ có gia đình tôi, quê tôi đang bị nhà nước cướp đất mà khắp nơi trong nước đang diễn ra tình trạng cướp đất, ngày càng tàn khốc, ngày càng trắng trợn. Tôi cùng với nhân dân bị oan khuất bắt đầu đấu tranh, giúp đỡ lẫn nhau trong cơn hoạn nạn. Thế rồi những người bạn dân oan của tôi hướng dẫn tôi sử dụng mạng vi tính. Cả một chân trời thông tin ào đến với tôi. Từ mạng, tôi biết có nhiều người đang đấu tranh đòi quyền dân chủ, tự do cho đất nước. Cuộc đấu tranh của dân oan được các bạn ở hải ngoại ủng hộ trên mạng. Quả thật chúng tôi rất mừng. Tôi còn biết thêm nhiều bạn trước đây đã vượt biển, chịu bao sóng gió, nguy hiểm để đến được một nước nào đó. Đến nay những người ấy đếu thành đạt, sống ở nước ngoài mà vẫn đau đáu nhìn về quê hương. Nhiều bạn lên tiếng đòi dân chủ cho nhân dân, tự do cho tổ quốc. Tuy nhiên, đọc thông tin trên mạng có một số bạn, nhiều người gọi là “chống cộng quá khích” tôi rất lấy làm tiếc. Tôi nghĩ tâm nguyện của các bạn chống cộng quá khích chỉ muốn mang lại những điều tốt đẹp cho đất nước chứ không hề định cản trở cuộc đấu tranh của nhân dân. Nhưng các bạn nóng lòng sốt ruột, đặt ra những yêu cầu “quá khích”, nếu ai không đồng ý thì các bạn tập trung “ném đá” dữ dội, vô hình trung làm hại nhiều người tích cực đang đứng trong mũi nhọn của cuộc đấu tranh.
Có một lần vào Huế, tôi nói chuyện với một người lái xe ôm. Tôi hỏi: Trước năm 75 anh làm nghề gì? Trả lời: Tôi đi lính ngụy! Tôi nói: Anh không nên nói thế, phải nói là gia nhập quân lực Việt Nam cộng hòa oai hùng. Oai hùng chứ không anh hùng. Một quân đội vứt súng chạy như vịt thì không thể gọi là anh hùng, tuy trong đó cũng có những người đáng gọi là anh hùng. Mà tại sao các anh lại vứt súng bỏ chạy thế? Trả lời: Vì chỉ huy chạy hết rồi còn đâu! Tôi nói: Không nói thế được đâu, nếu chỉ huy chạy thì sao anh không lên nắm quyền chỉ huy để tiếp tục chiến đấu? Phải xử bắn tại chỗ những tên chỉ huy hèn nhát, rồi vừa chiến đấu vừa binh vận, thuyết phục chúng tôi trở về bảo vệ đồng bào miền Nam mới phải chứ? Đến đây thì người cựu binh quân lực Việt Nam cộng hòa im bặt, không trả lời được nữa. Tôi hỏi tiếp: Anh có là sĩ quan không? Trả lời: Sĩ quan cấp thấp. Lại hỏi: Thế tại sao năm 75 anh không rút súng tự xử để bảo vệ lý tưởng? Lại im lặng.
Tôi hỏi tiếp: Các anh có biết vì sao mình thua không? Trả lời: Vì các anh giỏi hơn! Tôi nói: Không phải, anh nhầm lớn, chúng tôi không giỏi hơn các anh. Tôi là một cựu chiến binh miền Bắc, được đảng và nhà nước đào tạo, giáo dục, khi vào miền Nam tôi thấy trình độ chung của chúng tôi kém các anh nhiều. Các anh có học hơn, sống với nhau có tình, ứng xử rất có văn hóa. Chẳng hạn khi vào thành phố hỏi đường, anh em miền Nam chỉ đường nhiệt tình, vui vẻ, dễ mến, mặc dù lúc đầu chúng tôi khó chịu vì có anh để tóc dài. Lại trả lời: Vì bên giải phóng được viện trợ nhiều súng đạn hơn! Tôi nói: Anh lại nhầm, lúc ở chiến trường chúng tôi không nhiều súng đạn hơn các anh. Lại trả lời: Vì miền Nam bị Mỹ bỏ rơi, còn miền Bắc được Liên Xô, Trung Cộng chi viện. Tôi nói: Anh vẫn nhầm, thế anh có biết năm 1972 tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, báo Nhân dân ở Hà Nội đăng bài xã luận cho rằng bị phản bội không? Năm 1972 Trung cộng bắt tay với Mỹ, bỏ rơi Việt Nam. Nói bị bỏ rơi thì chính miền Bắc mới là người bị bỏ rơi. Tôi nói thêm: Khi QĐND Việt Nam tiến đến Xuân Lộc, anh có biết là các chiến sĩ quân lực VNCH đã chiến đấu kiên cường tới mức QĐND VN phải né tránh đi vòng đường khác không? Điều đó nói lên rằng một bộ phận quân lực VNCH (đáng tiếc cho các bạn, chỉ có một bộ phận chứ không phải là toàn quân) đã chiến đấu xứng đáng là người lính trên chiến trường. Nếu toàn thể quân lực VNCH chiến đấu như thế thì hôm nay các bạn không phải hối hận, những người như chúng tôi không phải lấy làm tiếc cho các bạn, cũng là cho chính chúng tôi. Tổ quốc Việt Nam cũng khác chứ không phải như hôm nay!
Nhiều khi tôi tự hỏi: Vì sao quân lực VNCH lại thua trận và sụp đổ hoàn toàn được nhỉ? Khi người Mỹ rút quân, đã để lại cho miền Nam một số lượng vũ khí khổng lồ, rất hiện đại. Chẳng hạn, theo đài Sài Gòn lúc ấy, không quân VNCH đúng thứ ba trên thế giới về số lượng. QĐND VN không được viện trợ khẩn cấp, chỉ dùng những thứ đã được viện trợ từ trước, tức là không hơn gì về vũ khí. Ngày hôm nay rất nhiều bạn cựu chiến binh quân lực VNCH đổ lỗi cho việc thiếu vũ khí, rồi bị Mỹ bỏ rơi… tôi thấy không thuyết phục. Nếu không chỉ đúng nguyên nhân của thất bại thì các bạn không rút được kinh nghiệm và sẽ lại tiếp tục thất bại thôi.
Vậy vì sao quân lực VNCH thất bại, nói rộng hơn vì sao chính quyền VNCH thất bại?
Chính quyền VNCH thất bại vì thiếu yếu tố căn bản quyết định sự tồn tại của nó, cũng là yếu tố quyết định thắng bại của mọi cuộc chiến tranh: yếu tố nhân dân. Bây giờ các bạn thử nhìn lại cuộc chiến từ đầu. Vừa lên làm tổng thống VNCH ông Ngô Đình Diệm đã hô hào “Bắc tiến”. Thậm chí nhà thơ Vũ Hoàng Chương còn làm thơ cổ vũ: Hẹn một ngày mai về cố đô / Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ… Sau đó ông Diệm tung nhiều toán gián điệp biệt kích ra miền Bắc nhằm gây dựng lực lượng. Nhưng tất cả các toán gián điệp biệt kích đều bị bắt, không một toán nào đứng chân trên miền Bắc được. Thậm chí công an miền Bắc còn lập chuyên án, tổ chức bắt giữ các toán mới thâm nhập để thụ vũ khí, vật dụng…Ngược lại, nhiều tốp cán bộ miền Bắc trở vào Nam, xây dựng các khu căn cứ để nhận vũ khí từ ngoài Bắc chuyển vào, phát động chiến tranh du kích. Tại sao Tổng thống Ngô Đình Diệm thất bại trong việc thâm nhập miền Bắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lại thắng lợi trong việc cử cán bộ thâm nhập miền Nam. Đấy là vì Chủ tịch Hồ Chí Minh khai thác tốt yếu tố nhân dân. Đất nước nào thì nhân dân cũng là tập thể có nhiều thành phần. Có bộ phận nhân dân luôn ủng hộ chính quyền, có bộ phận khác thì chống chính quyền, và có bộ phận chỉ biết làm ăn, không tham gia vào các phong trào chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã khai thác sự ủng hộ của bộ phận nhân dân ủng hộ ông ngay tại miền Nam, vì vậy tạo dựng được các căn cứ để chuyển quân từ Bắc vào Nam tiến công đánh đổ chính quyền VNCH. Vào đầu năm 1975 QĐND VN có thể đưa xe tăng tiến vào các thành phố lớn ở miền Nam. Thế xăng ở đâu để cấp cho xe tăng? Các bạn cứ hình dung công binh miền Bắc đã lắp đặt đường ống dẫn xăng dầu vào sâu trong đất miền Nam, áp sát ngay các thành phố. Vì sao công binh miền Bắc làm được điều đó? Vẫn là yếu tố nhân dân. Không có nhân dân, QĐND VN không đủ hậu cần cho cuộc tiến công, đương nhiên sẽ không có cái ngày 30/4/1975. Suôt cả cuộc chiến, quân lực VNCH có thể tấn công vào Căm-pu-chia, sang Lào nhưng chưa bao giờ tấn công ra miền Bắc. Vì sao vậy? Nếu tiến công ra Bắc để ngăn chặn chiến tranh từ gốc của nó thì sao? Các tướng lĩnh quân lực VNCH cho rằng quân miền Bắc xuất phát từ Căm-pu-chia tiến vào miền Nam nên tấn công sang để ngăn chặn từ xa, thế thì tại sao không tấn công tận gốc là miền Bắc? Lý do đơn giản vì nếu đổ quân ra Bắc thì chắc chắn thất bại. Kinh nghiệm cho thấy ngay việc tung các toán gián điệp biệt kích ra cũng không thành công, lấy cơ sở nào để nói tiến ra Bắc thắng lợi. Chúng ta lại thấy yếu tố nhân dân quyết định thắng bại trong cuộc chiến. Tôi có thể nói thêm: Tháng 4/1975, khi quân giải phóng tiến vào, người dân ở thành phố miền Trung bỏ chạy về phía Nam. Nếu giả định không phải là quân giải phóng tiến vào Nam mà là quân lực VNCH tiến ra Bắc thi cái gì sẽ xẩy ra? Chắc chắn nhân dân miền Bắc sẽ tiến hành chiến tranh du kích tại những vùng quân lực VNCH chiếm được. Nhân dân sẽ không bỏ chạy đâu, đó chính là nét khác biệt với tình hình ở miền Nam.
Sau ngày 30/4/1975, chính quyền cộng sản bắt đầu thực hiện các chính sách cải tạo xã hội. Bản chất các chính sách này là sai, không phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại. Nền kinh tế xuống dốc làm nhân dân cả nước sống trong đau khổ triền miên. Chính sách đổi mới nửa vời tuy có làm đời sống thay đổi chút ít nhựng Việt Nam vẫn ngày càng tụt hậu so với các nước láng giềng. Đến lúc toàn khối XHCN Đông Âu sụp đổ thì đảng cộng sản Việt Nam mất chỗ dựa chính trị, bí bách phải bám vào Trung Quốc. Đây là chỉ dấu cho chúng ta biết các nhóm lợi ích điều khiển đảng cộng sản đã tách khỏi nhân dân. Kể từ đó các nhóm lợi ích giành giật nhau quyền lãnh đạo, chà đạp lên toàn thể nhân dân, vơ vét biến của chung thành của riêng nhóm lợi ích. Biểu hiện bề mặt của chuyện này là các chính sách cướp đất, rửa vàng… Nhóm lợi ích đã trở thành giặc nội xâm tàn bạo nhất trong lịch sử 4000 năm dựng nước của dân tộc ta. Có áp bức thì có đấu tranh. Nhân dân bị áp bức nhiều tỉnh thành đấu tranh, nổi bật nhất là chống cướp đất. Cuộc đấu tranh của nhân dân, đặc biệt là dân oan toàn quốc đã và đang thức tỉnh ngay cả những đảng viên cộng sản lão thành, có nhiều năm cống hiến cho đảng. Đây là cuộc đấu tranh mà một bên là các nhóm lợi ích trong đảng cộng sản Việt Nam, một bên là toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó có cả các đảng viên trung kiên của đảng. Chúng ta cần đoàn kết toàn bộ những người yêu nước, yêu nhân dân, không kể đến quá khứ của họ. Những đảng viên “trung kiên”, “chân chính” của đảng cộng sản, nếu đứng về phía nhân dân thì cần được hoan nghênh, ủng hộ. Không nên đề ra những yêu cầu quá khích cho bất cứ ai, nhằm đoàn kết rộng rãi nhất với mọi người. Chúng ta đấu tranh không phải để “xả giận” cho thất bại trước đây, không phải để “trả thù” kẻ áp bức chúng ta, cho dù những kẻ áp bức ấy thực sự mất hết tính người. Chúng ta đấu tranh nhằm xây dựng một xã hội dân sự trên nước Việt Nam này, ở đó ai cũng được tự do, bình đẳng trước pháp luật, được quyền sống và mưu cầu hạnh phúc.
Tôi có lúc đã ngưỡng mộ, thán phục một số người chống cộng như Nguyễn Khoa Nam, Lý Tống… Nghe tin Lý Tống cưỡi lên máy bay, rải truyền đơn giữa Sài Gòn tôi hết sức thán phục. Đấy là hành động anh hùng giữa đời thường. Nhưng khi nghe chuyện Lý Tống xả thuốc mê vào ca sĩ Việt cộng trên sân khấu thì hình ảnh Lý Tống đã chết trong tôi. Lý Tống anh hùng đã trở thành Lý Tống côn đồ, vô văn hóa. Người ta không thể chống bọn vô văn hóa bằng hành động vô văn hóa, thiểu năng trí tuệ. Nhiều trang mạng ở nước ngoài dùng những từ ngữ như “bưng bô cộng sản” tự làm xấu đi hình ảnh những anh hùng chống cộng trong mắt tôi (ăn nói kiểu gì mà… mất vệ sinh thế?). Vậy thật ra các bạn là ai? Các bạn là những người anh hùng lỡ vận muốn cứu nhân dân đang chìm trong ách thống trị tàn bạo của nhóm lợi ích trong đảng cộng sản hay các bạn chỉ là đám đầu gấu bị mất quyền lợi muốn chiếm lại vị trí ăn trên ngồi trốc trước kia? Các cụ ta dạy: Người thanh ăn nói cũng thanh, các bạn hãy tỏ ra là những người hơn hẳn về văn hóa, có đũng khí, thông minh nhưng chưa gặp vận. Bây giờ là lúc vận nước đang đến, các bạn hãy dùng kinh nghiệm, khả năng của mình để giúp nhân dân vượt qua cơn bĩ cực, tên tuổi các bạn sẽ được người sau mãi mãi nhớ đến, biết ơn.
Tôi nhớ đến đêm 23/4/2012. Đấy là đêm mà nhiều anh em chúng tôi đã đến cánh đồng huyện Văn Giang, Hưng Yên, cùng nhân dân đốt lửa chờ đám giặc nội xâm đến cướp đất. Có người ở ngay trên cánh đồng với nhân dân, có nhóm “phục kích” ở xã bên, nếu giặc nội xâm cướp đất ban đêm thì sẽ chi viện nhân dân bằng đòn đánh úp từ phía sau lưng chúng. Chúng tôi là cựu chiến binh, có người là biệt động mà. Rồi chúng tôi bàn đi bàn lại: Có dùng vũ khí chống cưỡng chế hay không? Vì là các cựu chiến binh, nếu cần vũ khí thì chúng tôi sẽ có vũ khí. Nếu dùng vũ khí nghĩa là có người chết, nghĩa là sẽ có đàn áp khốc liệt, phần thiệt sẽ thuộc về nhân dân. Đến tận lúc trời mờ sáng mới đi đến quyết định: Đấu tranh hợp pháp, bảo toàn sinh mạng cho cả hai bên, bên bị cưỡng chế và bên đi cưỡng chế. Cần phải tận dụng tất cả tiếng nói của nhân dân, của các đảng viên cộng sản còn lương tri để chặn bàn tay tội ác của nhóm lợi ích tại Văn Giang. Để xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh, chúng ta phải học theo cụ Nguyễn Trãi: Dùng đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Đất nước đang trong những năm tháng khó khăn, rất cần sự hỗ trợ từ nhiều phía, và tôi tin các bạn là những người đại nghĩa, chí nhân, sẽ có phương thức hiệu quả giúp nhân dân trong lúc khó khăn này.
Nguyễn Thành Công, cựu chiến binh QĐND Việt Nam