Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

J.B Nguyễn Hữu Vinh - Không thể bỏ điều 4, nhưng có thể bỏ tất cả những điều còn lại

J.B Nguyễn Hữu Vinh - Không thể bỏ điều 4, nhưng có thể bỏ tất cả những điều còn lại




Từ đầu năm đến nay, sau khi nhà nước nổi hứng mở đợt Góp ý dự thảo sửa đổi Hiến Pháp, người dân khá ngỡ ngàng. Lạ thật, bản Hiến Pháp 1992 đang làmột thứ bùa khá tốt, đảm bảo cho “Đảng ta” một vị thế mà có mơ bảy đời, thì Tổng thống Mỹ Obama cũng không bao giờ có được, có tu mười đời, thì Tổng thống Nga Putin cũng chẳng bao giờ dám mơ tới, chưa nói mấy ông tổng thống “lặt vặt” ở các nước nhược tiểu cỡ Thái Lan hoặc Australia… Tất cả là nhờ ở Điều 4 của cái gọi là Bản Hiến pháp 1992 mà một số tờ báo đã ghi sai chính tả thành Hiếp pháp.



Điều 4?



Điều 4 là gì mà quan trọng vậy? Nguyên văn Điều 4: “Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.



Chính điều này đã đảm bảo cho “Đảng ta” một vị thế vững và “chắc như cua gạch”, khi luật hóa một điều lạ lùng mà ở các nước khác không hề có. Điều này cũng giống như ở trong một làng, có bản Hương ước ghi rằng: Sau khi cướp được ngôi vị ở làng này, chỉ có một mình gia đình Đ. làm bố cả làng. Đ. là gia đình của trí tuệ, đạo đức và văn minh, là đại diện cho cả làng. Không ai được xúc phạm gia đình Đ, bảo gì phải nghe nấy, tích cực làm việc để cống nạp nuôi gia đình Đ. sống phong lưu. Ai chống lại gia đình Đ. có nghĩa là chống lại cả làng. Tất cả quân binh, lính lệ… đều chỉ trung thành tuyệt đối và bảo vệ gia đình Đ. Gia đình Đ. có quyền làm bất cứ việc gì cả làng không được thắc mắc, chỉ được nghe và làm theo. Gia đình thực hiện chính sách cha truyền rồi con nối để lãnh đạo làng. Nếu làm tốt thì gia đình được công, xấu thì cả làng phải chịu. Dù cho gia đình Đ. bố mẹ có dâm loạn, con cái chuyên trộm cướp cũng nghiến răng mà chịu, cũng phải im mà ca ngợi… và chỉ được ca ngợi mà thôi”.



Vậy còn đòi gì hơn nữa mà phải bày đặt? Nhiều người đặt dấu hỏi như vậy. Và họ tự tìm cách trả lời: Phải chăng, Đảng và Nhà nước ta đã nghĩ lại, đã nhìn thấy mình và hồi tâm, đổi tính để quyết định lần này thì thật sự trao lại cho nhân dân quyền của họ? Phải chăng, Đảng đang thực hiện một điều mà Đảng hô hào từ đời tám hoánh nào đó rằng: “Phải nhìn thẳng vào sự thật”, nhưng từ khi hô hào khản cổ điều này, thì có lẽ chưa bao giờ họ dám nhìn thẳng vào sự thật lần nào. (Nếu bạn không tin, hãy mở các báo cáo chính trị, nghị quyết ra mà đọc lại). Chẳng thế mà ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm UB Luật pháp Quốc hội đã khẳng định ngay từ đầu là việc góp ý “không có vùng cấm, kể cả góp ý về điều 4”.




Hưởng ứng hay phản ứng






“Được lời như cởi tấm lòng”, hàng vạn người đã nhiệt tình hăng hái đưa ra các ý kiến góp ý cho Bản dự thảo Hiến pháp mới với tất cả tâm huyết của mình, những dồn nén nay mới có dịp bung ra. Điển hình là 72 nhân sĩ, trí thức của đất nước, đã ngày đêm thao thức và đưa ra một bản Kiến nghị, góp ý về sửa đổi Hiến Pháp 1992 để gửi đến Quốc Hội. Bản văn này đã lập tức có tiếng vang lớn, hàng chục ngàn người đã lập tức ủng hộ và ký tên. Tiếp theo, đại diện của 8 triệu giáo dân Công giáo Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) cũng đã gửi một bản nhận xét và góp ý” về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Bản văn này đã được sự đón nhận hết sức mạnh mẽ và hào hứng, không chỉ với người Công giáo mà cả xã hội.



Những bản Góp ý tâm huyết không ngại “vùng cấm” nói trên, đã vạch ra rất rõ những bất hợp lý, những ý nguyện của người dân để mong xã hội tốt đẹp, đất nước phát triển… đã lập tức cho thấy rõ sự ngược ngạo của những điều vô lý còn tồn tại. Ở đó, người ta vạch rõ nội dung một số điều đã mâu thuẫn với nhau như nước và lửa, đồng thời yêu cầu có thay đổi. Một chế độ chính trị thật sự “của dân, do dân, vì dân” đã được đệ trình và vạch rõ qua các bản góp ý dự thảo Hiến pháp.



Hãy xem một đoạn trong bản Góp ý của HĐGMVN như sau: “Dự thảo khẳng định quyền tự do ngôn luận (điều 26), quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật (điều 43), quyền tự do tín nguỡng, tôn giáo (điều 25). Tuy nhiên, ngay từ đầu, Dự thảo lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (điều 4). Như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tư do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi? Tương tự như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần? Phải chăng những quyền này chỉ là những ân huệ được ban cho nhân dân tùy lúc tùy nơi, chứ không phải là quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, và bất khả nhượng? Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân.



Trong thực tế, sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam. Ðây là một trong những lý do lớn, dẫn đến tình trạng trì trệ và chậm tiến của Việt Nam về nhiều mặt: giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật…”.



Rất nhiều văn bản, bài viết đã phân tích rất rõ: Chính nội dung điều 4 đã phủ nhận và chống lại nhiều điều khoản còn lại của bản Hiến pháp hiện nay và bản Dự thảo đã ban hành.



Không thể bỏ điều 4?




Ngay lập tức, dàn báo chí và các nhà lý luận đã được tung ra giải thích và khẳng định: “Không thể xóa bỏ điều 4” với muôn vàn lý do. Nhưng, lý do chủ yếu là do Đảng có công lao, đảng là duy nhất có năng lực, đạo đức… để lãnh đạo đất nước này mà thôi. Đọc những lời đó, người ta có cảm giác rằng từ khi khai sinh lập địa ra đất nước, dân tộc này, chỉ có một mình Đảng CS là có công, và hơn thế nữa, chỉ có mỗi Đảng CS là đạo đức, văn minh…



Những lý luận quanh co, những lập luận luẩn quẩn nói lấy được đó không làm người nghe hài lòng hoặc khâm phục. Chủ yếu là tiếng nói của những kẻ cầm súng hoặc dựa vào chiếc dùi cui. Người ta nói những lời đó với tâm trạng của kẻ “cả vú lấp miệng em”. Còn người nghe những lời đó với tâm trạng “chấp chi đám bồi bút”. Vấn đề cuối cùng là lòng dân vẫn hiểu, vẫn biết Đảng đang muốn gì.



Qua theo dõi mọi người đều thấy rằng, các văn bản Kiến nghị, góp ý để bản Dự thảo Hiến pháp thật sự đúng nghĩa của Hiến Pháp đã không hề yêu cầu xóa bỏ điều 4 trong bản Hiến Pháp. Còn cá nhân tôi, tôi khẳng định rằng không thể bỏ điều 4 trong một bản Hiến Pháp, bởi nhiều lý do rất thực tế.



Trong thực tế, nhiều nơi, nhiều nước đã kiêng con số 13. Theo lời giải thích là vì bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 môn đệ, tất cả có 13 người. Người thứ 13 đó là Giuđa Ixcariot đã phản bội mà bán Chúa Giêsu là thầy của mình lấy 30 đồng bạc. Vì thế, con số 13 là con số của kẻ phản bội nên bị kiêng. Thậm chí, có những ngôi nhà, cửa hàng, ghế máy bay không có tầng thứ 13, hàng ghế số 13 mà chỉ từ 12 rồi lên 14 hoặc đi qua 12B.



Với người dân Việt Nam ngày nay, con số 4 tương tự như con số 13 độc địa kia. Nhưng không thể vì mê tín mà đòi xóa bỏ điều 4 trong Bản Hiến pháp. Một bản Hiến pháp không thể nhảy cách dòng từ điều 3 lên điều 5 mà bỏ qua điều 4. Mặt khác một bản Hiến Pháp không thể chỉ có 3 điều để không có điều 4. Do vậy, vẫn phải có điều 4.



Vấn đề là ở chỗ, cần phải thay đổi triệt để, xóa bỏ nội dung điều 4 hiện tại để thay thế vào đó một điều tiến bộ hơn và là ý chí của toàn dân nhằm xây đựng đất nước vững mạnh, tiến bộ.



Nhưng, điều đó thì “Đảng ta” lại không muốn, thậm chí bằng mọi giá phải giữ bằng được những nội dung đó. Nghĩ cho cùng thì cũng đúng thôi, với uy tín của Đảng trong nhân dân cao vời vợi như hiện nay, với sự trong sạch, đạo đức của Đảng, khối đoàn kết nhất trí và sức mạnh của Đảng như hiện nay, nếu bắt phải bỏ những nội dung trong điều 4 thì có khác gì buộc Đảng tự sát tập thể. Mà chẳng ai muốn tự sát khi quyền lực đầy mình, của cải vô biên.



Đó mới là mâu thuẫn chính giữa Đảng và dân trong quá trình xây dựng Hiến Pháp ở Việt Nam.



Giải pháp nào?






Để xã hội không bị loạn lạc, vô kỷ cương và đất nước có thể tồn tại, không thể để chứa đựng những mâu thuẫn như nước với lửa trong bản Hiến pháp hiện nay. Cần tìm một giải pháp khả dĩ để loại trừ điều đó.



Thực ra, cũng có một giải pháp rốt ráo nhằm có một bản Hiến Pháp không chứa đựng mâu thuẫn đối kháng như hiện nay. Đó là:



- Hoặc thay đổi triệt để nội dung của Điều 4 Hiến pháp hiện hành, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân muốn xây dựng một xã hội tiến bộ, dân chủ, công bằng, văn minh. Nếu theo giải pháp này, sẽ rất cần phải mất công mất sức hoàn chỉnh luật lệ, hệ thống quyền lực, pháp lý… đáp ứng được nhu cầu xã hội.


- Trường hợp không thể thay đổi nội dung điều 4. Thì giải pháp thứ hai nên bàn tới, đó là chỉ để mỗi nội dung điều 4 và bỏ hết tất cả những điều còn lại.



Xin đừng vội cho rằng điều này phi lý, thậm chí sẽ rất ưu việt là khác. Trước mắt là đối với nền kinh tế đang què quặt, ốm yếu và khủng hoảng hiện nay.



Khi đó, cả xã hội sẽ được điều khiển bằng Nghị quyết, bằng chỉ thị, bằng mệnh lệnh và nhiều khi bằng ý thích của một cá nhân nào đó có quyền lực trong Đảng. Điều này xã hội Việt Nam thừa sức thực hiện và đã được chứng minh qua thực tế một thời gian dài. Hiện nay, Bắc Triều Tiên hình như cũng đang thực hiện mô hình đó xuất sắc để đảm bảo vai trò “côn đồ quốc tế”.



Bởi hệ thống Đảng đã thành một bộ máy hoàn chỉnh, song trùng với hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tất cả đang hưởng lương từ túi người dân. Nếu theo giải pháp này, chúng ta có thể giải tán được tất cả mọi cơ quan thuộc chính quyền dân sự, các cơ quan mặt trận, đoàn thể, hội đoàn… là một bộ máy song trùng hoàn chỉnh thứ 2 cũng từ Trung ương đến địa phương và nuôi bằng ngân sách nhà nước.



Nếu theo đúng giải pháp này, lượng người ăn lương của Việt Nam sẽ giảm từ hơn 7 triệu hiện nay xuống chỉ còn gần 3 triệu người ngay lập tức. (Đơn giản là vì con số Đảng viên hiện nay chỉ có như vậy). Như thế, một lượng ngân sách khổng lồ đã được tiết kiệm cho nhân dân.



Về mặt xã hội, khi đó không còn bộ máy cồng kềnh và các công việc phức tạp,. Hệ thống Pháp lý được giảm bớt khối lượng công việc khổng lồ. Việc xử án, điều tra hoặc truy tố, chẳng cần đến các bộ phận riêng rẽ như Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án. Đơn giản là chỉ cần Ban Nội chính họp một buổi là có án. Từ trước đến nay dù có ban bệ, cũng nội dung là thực hiện nghị quyết như vậy thôi.



Tương tự, cả xã hội sẽ được điều hành một cách ngăn nắp, trật tự và hoàn toàn đơn giản bởi bộ máy cảnh sát, công an…



Khi đó, sẽ không có cảnh chính phủ phải phát động những phong trào tốn kém mà mục tiêu lại hạn chế như “Trồng năm triệu ha rừng”. Bởi khi đó, cả nước sẽ là rừng bao phủ, ít nhất về mặt luật pháp.



Về mặt kinh tế, mọi cơ quan phức tạp sẽ được lược bỏ, chỉ cần cấp ngân sách xây thêm nhà tù.


Đó là những mối lợi lớn của giải pháp này cần nghiêm túc nghiên cứu cho hoàn chỉnh, hỡi các nhà lý luận.



Ngày 30/5/2013

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI DO ĐẢNG CƠ CẤU ĐÃ CÓ MÒI…CỰA QUẬY!


ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI DO ĐẢNG CƠ CẤU ĐÃ CÓ MÒI…CỰA QUẬY! 


Quả là lắm lúc thấy cũng dzui dzui khi nhận ra mình vẫn sống nhăn răng (giả) ra để cười tủm, mỗi khi có chuyện với mấy ông bà nghị sỹ Việt LAM suốt 67 năm liền phải ra trò diễn xuất vừa qua!

Trừ cái khóa mang số xui, năm xui này (khóa 13 năm 2013), không khóa nào mà mình không có người thân hoặc đồng hương, đồng khóa, đồng nghiệp, đồng môn “bỗng dưng” được trở thành “đại biểu nhân dân” của một cái địa phương xa tít mù tắp chưa hề đặt chân tới bao giờ! 

Lý do: Cái khóa 13 này chẳng còn mấy ai ở cái tuổi mình mà còn…ngắc ngoải cả!!! Ngỏm củ tỏi cả rồi. Nhưng kỷ niệm về họ khi giốc bầu tâm sự giữa những người cùng có ăn có học, cùng có cái đầu và trái tim giống nhau, cùng gác bỏ tất cả học hành, nhà cửa, tương lai no cơm ấm cật để đi tìm làm ….cách mạng đánh nhau với Tây thực dân...giải phóng quê hương thì …càng nghĩ càng …kinh!

Vì: Không hiểu sức chịu đựng nào đã giúp họ hoàn thành lúc tròn vai, lúc thì im lặng cậy răng không nói một câu suốt thời gian sắm vai nghị sỹ quốc hội mà giấy trắng mực đen thì phóng lên là “quyền lực cao nhất nước” nhưng khi phát biểu câu nào đều đã có chỉ đạo của cơ quan siêu tối cao quy định! Nghĩa là: đã được chỉ định vào chân đại biểu của dân thì chỉ có: “Tôi hoàn toàn tán thành với ý kiến (hoặc báo cáo của đ/c X, Y, Z…. “Tuy nhiên” tôi thấy “chúng ta” đang còn những thiếu sót (hoặc bất cập) như sau… Mà khắc phục thì đường lối của Đảng đã chỉ rõ, chúng ta chắc chắn sẽ….thành cộng! Và cái mẫu: “Chúng tôi hoàn toàn tán thành….” Hoặc “hoàn toàn đồng ý” hoặc ….“đánh giá cao”…. …“Tuy nhiên”….gần như là cái mẫu chung cho các vị đại biểu cho dân mỗi khi muốn tỏ vẻ “phát huy dân chủ” chốn nghị trường! 

Trừ cái khóa đầu, mình có ông cậu Đoàn Phú Tứ trở thành ông nghị phản kháng đầu tiên chửi vào mặt tên Trần Dự Châu giữa bàn tiệc cưới xa hoa rồi …..“dinh tê” thì…hầu hết các bạn bè mình, các khóa sau này đều…hoàn thành “vai diễn” …hoặc ăn nói có chỉ đạo nghiêm túc hoặc im lặng hơn cả hến, nghêu, sò hoặc tìm cách trốn biệt khi có cuộc họp thường kỳ. Đến nỗi Đảng phải cử người khác thay thế như trường hợp ông bạn D.N.Đ, người đạo diễn luôn chảy máu dạ dày đúng lúc ên đã được bà Th.H, cùng Ban chấp hành hội nghệ sỹ sân khấu tiếp quản …ghế!

Nhưng đáng nhớ nhất là ông bạn Huy Du, đại biểu QH đi đâu cũng cặp kè với ông Phó Chủ Tịch Quốc Hội Trần Độ (đồng hương )! Cả hai đều dân ắc ê cũng như mình nên mỗi lần vào Xè-Gòn đều mò đến nhà mình để được tự do phát huy tư tưởng…. tiến bộ! Có đêm “cả 3 thằng” nghe chuyện tiêu cực của mấy ông đoảng viên có cỡ ở đất Sài Thành mà phát…khiếp! 

Chỉ riêng cái chuyện ông Giám đốc Nhà Đất cũng có tên gì gì Hải đó…đã cho quân đi khắp nơi hợp thức hóa hàng ngàn ngôi nhà, villa trong một đêm, rồi lùi ngày ký quyết định để ra vẻ chuyện đã “lỡ bán” cho các đồng chí mình trước khi Trung Ương có chỉ thị ngừng việc bán nhà mà người tố khổ lại chính là một ông bác sỹ cách mạng được chiếu cố” mua nhà trong lúc trong túi chẳng có nổi một ngàn ăn phở! 

Hàng tràng tiếng chẹc chec! Hàng chục câu chửi đổng và…càng hăng hái khi nghe thấy tên Hải này sắm đồ chơi tennis của hắn đến cả chục cây vàng! 

Thế là…. Khi trở về Hà Nội (Chắc cũng có sự đồng tình của phó chủ tịch T.Đ). Giữa hội trường Huy Du ta quẳng ngay chềnh ềnh cái vụ mà HD gọi thẳng là…”tham ô tập thể” này ra sàn! …Xì-căng-đan bô-li-tích đã bị ỉm lẹ đi ngay lập tức! 

Và sau đó, Trần Độ ra sao thì cả thế giới đã biết! Riêng ông bạn HD thì nghỉ trò “diễn viên quốc hội” ngay sau đó. Thêm một trường hợp chỉ được cơ cấu có trần xì một khóa! 

Sau đó, rút kinh nghiệm, ông Trọng Bằng có vài lần đứng lên phát biểu thì…đều phát huy cái…… bằng đại học sư phạm chính quy của mình ra để góp ý sửa…văn pham, tu từ…trong các văn bản trên đã soạn ra …Còn lại….dù 2, 3 bằng đại học, nghệ sỹ nhân dân, ưu tú … đều ít ai lên tiếng về tình hình văn chương nghệ thuật nước nhà ….

Tóm lại: Quốc hội của đoảng không phải là nơi họp bàn về những chuyện hoa lá cành văn hóa - văn nghệ!
Và quả là thế: Lâu nay ít thấy có tiếng nói mấy ông đại diện cho các ngành văn hóa-văn nghệ đàn em (về tuổi tác) của mình xuất hiện ngay cả trên màn hình …. 

Và mình lại nhớ đến cái chiến thuật của Dương Ngọc Đức….Tại sao cứ để người ta cơ cấu mãi vào cái cơ quan bị mang đủ các thứ tiếng không mấy hay ho! Cứ thử lắc đầu không nhận hay “thà đi nằm bệnh viện còn hơn là đi họp quốc hội” xem ai đã làm gì ai nào?

ĐẠI BIỂU QH THỜI …SUY THOÁI… 

Cho đến cái khóa 13 này, mình đã phải coi lại mình xem có quá ư bi quan, quá ư thất vọng về mấy ông đạị biểu cho dân do đảng chỉ định này không?

Và mình chợt nhận thấy :

1-Chính do có sự suy thoái đến thảm hại của “một bộ phận không nhỏ” các đảng viên, nhất là của những “cấp chỉ đạo” mà “một bộ phận rất nhỏ” các ông nghị, bà nghị đã có sự vùng lên hơi mạnh miệng chưa từng thấy!

2-Tất cả những gì “nói khác đi” đều là phát triển những gì các ông to, cực to hay tuyệt đỉnh to đã nói cả…Đại biểu chúng tôi chẳng qua chỉ phát triển ý của đ/c Y, đ/c X mà thôi!...

3-Cũng có thể (nếu đúng thế thì may mắn cho dân Việt vô cùng), Xin bộc bạch tất cả một lần …..Lần sau em xin chừa không đóng vai nghị sỹ do Đảng chỉ định nữa! Chả ăn cái giải gì mà bị hàng triệu người khắp thế giới và trong nước chế diễu muôn đời vì bị xếp vào cùng một giỏ với Hoàng Hữu Phước, và…..đồng bọn!

Như lần trước đã hứa: Do có nhiều thời giờ, do có nhiều…”can đảm“ đọc ”báo ta“ mình lại xin paste lên đây một số điều “mới mẻ” mà chính mình cũng không ngờ.

Các bạn trẻ ít có thời giờ lên mạng đọc báo, hoặc không có tiền mua báo hãy tin tớ! Đọc được lắm đấy! và cũng có le lói chút xíu hy vọng về những sự suy thoái đáng hoan nghênh của mấy vị đạị biểu nhân rân này: 

Ngược với góc nhìn lạc quan của Chính phủ, báo cáo của Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Nguyễn Văn Giàu lại cho thấy một góc nhìn khác:Thực tế năm 2013 cho thấy nền kinh tế đang đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn có mặt còn nghiêm trọng hơn so với năm trước.

Còn phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Đỗ Văn Đương (TP.HCM) gay gắt hơn, nói: “Tôi thấy báo cáo của Chính phủ rất sơ sài, không phân tích được nguyên nhân, cũng không thấy rõ ràng giải pháp. Trong một trang mà tôi đếm có tới 23 lần các từ “đẩy mạnh, tăng cường, tích cực”. Ta hô hào rất nhiều mà giải pháp cụ thể không được bao nhiêu”

“Tôi thấy những con số nêu trong báo cáo của Chính phủ hời hợt, không trung thực, không phản ánh được tình hình” - đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) nhận xét.

Ông Nghĩa phân tích: “Với những con số báo cáo đó, công luận không cảm nhận hết sự nghiêm trọng của tình hình. Thực chất, mô hình tăng trưởng của ta là mô hình dựa chủ yếu vào vốn, xem GDP là một thành tích để phấn đấu với nhau, khen thưởng với nhau. Cái mà ta xem là thành tích thì nhiều chuyên gia lại xem đó là chuyện trầm trọng. Chẳng hạn như xuất siêu. Trong vòng 1-2 năm xuất siêu tăng thì ta lại ca ngợi nhau, trong khi tình hình VN - một quốc gia cần phải nhập siêu đầu vào để sản xuất - thì bây giờ xuất siêu là bệnh đấy”.

Đánh giá báo cáo của chính phủ (do ông Phúc cắm đầu cắm cổ “đọc vội đọc vàng”)

Đại biểu Võ Thị Dung (TP.HCM) nói thêm: “Trước kỳ họp, chúng tôi đi tiếp xúc cử tri thì nghe người dân rất xôn xao trước tình hình của đất nước. Nhưng khi nghe báo cáo đánh giá của Chính phủ thì mình lại thấy tình hình bình yên quá. Trong báo cáo, các khuyết điểm nói nghe rất đơn giản, nhẹ nhàng. Qua hành xử của một số bộ ngành không nghĩ đến trách nhiệm đã làm dân tình hoang mang. Tôi ví dụ như chuyện tham nhũng: mỗi lần báo cáo thì ta cứ nói tình hình tham nhũng chưa được đẩy lùi. Chúng tôi đi tiếp xúc cử tri cũng thấy xấu hổ với cử tri khi chỉ có một câu mà phải lặp đi lặp lại quá nhiều lần như thế.

“Tôi được tham gia Quốc hội từ đầu khóa tới giờ thì báo cáo nào cũng nói là đầu tư dàn trải. Nhưng với những cá nhân xử dụng ngân sách sai thì Quốc hội cũng chưa có đề nghị với Chính phủ kỷ luật ai. Đọc báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, tôi rất đau lòng vì khi tình hình hiện nay khó khăn mà sử dụng ngân sách thiếu trách nhiệm với dân quá. Mình cứ nói đã xài rồi, không quyết toán thì không được. Nhưng nói như vậy thấy băn khoăn với dân quá, có lỗi, thiếu sót với dân quá. Quốc hội phải xem xét kỹ và có những địa chỉ phải làm rõ trách nhiệm. Một điển hình tôi thấy là ở dự án xây dựng nhà tái định cư thủy điện Sơn La, giá trị đầu tư 60 tỉ đồng nhưng chỉ có sáu hộ dân vào ở. Sử dụng ngân sách như thế thì không thể chấp nhận được”
.. 

Nói đến đây, bà Dung rưng rưng nước mắt. 

Đây không phải là lần đầu tiên bà Dung phải rơi lệ trước Quốc hội, mới kỳ họp trước (ngày 1/11/2012), tại buổi thảo luận về việc tăng lương, bà Dung đã làm hội trường chết lặng khi bà bật khóc nhắc đến cuộc sống quá thiếu thốn của những bệnh nhân ở một trại phong bà vừa đến thăm. 

“Ở đó, hằng ngày, mỗi người bệnh chỉ được cấp 8.000 đồng cho hai bữa ăn. Nhưng trong lúc đó, ngân sách để lãng phí bởi nhiều khoản chi tốn kém, không cần thiết, thậm chí vượt chi tới cả nghìn tỷ đồng! Dù ngân sách khó khăn, vẫn phải cố gắng đảm bảo chính sách, đảm bảo công bằng xã hội”, bà Dung nói.

Đấy là đại biểu Dung mới chỉ đọc báo cáo, hoặc một lần thực tế tới một Trung tâm bảo trợ xã hội, chứ nếu bà đọc báo thường xuyên thì có lẽ nước mắt chả còn để mà khóc nữa. Khi hằng ngày trên mặt báo xuất hiện dày đặc các tin kinh tế khó khăn, từ tầm vĩ mô đến vi mô, nào là nợ công tăng, nợ xấu nhiều, doanh nghiệp thiếu vốn; Tập đoàn nhà nước làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất, nhưng lương lãnh đạo vẫn cao ngất; doanh nghiệp phá sản, dừng hoạt động, năm sau nhiều hơn năm trước, tháng sau cao hơn tháng trước; một chủ doanh nghiệp giết vợ con rồi tự tử; nợ nần, giết vợ con rồi treo cổ; công nhân buồn, đói, khóc vì không được tăng ca...

Về việc giảm chi tiêu công

Đại biểu Phạm Đức Châu nói: "Tôi không đồng tình với việc cắt giảm 10% như nêu trên. Bây giờ phải tiết kiệm chi tiêu công, mua sắm, đặc biệt là đi nước ngoài. Tôi xin nói có những hội nghị nếu cần thiết thì tổ chức, không thì thôi, chứ có những hội nghị mà chúng tôi ra đến Hà Nội chỉ một buổi, cả nước ra Hà Nội một buổi xong rồi về, lãng phí lắm. Chỉ cần tiết kiệm một vài hội nghị là thoải mái cho cái 10% kia”

Về việc nhà nước độc quyền thương hiệu vàng miếng SJC:

Đại biểu Thúy cho rằng: "việc độc quyền thương hiệu vàng miếng khiến chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới ngày càng lớn, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân nên cần sớm xem xét bỏ thương hiệu vàng miếng quốc gia SJC. Đồng tình quan điểm này, đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) đề nghị không nên để ngân hàng độc quyền mà nên mở rộng: “Quốc hội đã có nghị quyết cố gắng giá vàng trong nước và thế giới tiếp cận nhau. Thế nhưng đến nay vẫn chênh nhau rất xa”. Đại biểu Trần Du Lịch cũng nhất trí không cần thiết phải có một thương hiệu vàng quốc gia mà để thị trường lựa chọn. Nhà nước chỉ quản lý về chất lượng chứ không quản lý thương hiệu" 

Về việc thu chi ngân sách nhà nước (NSNN) thì:

Sau khi không được thỏa mãn về sự chính xác của những con số thống kê vô căn cứ, không ăn khớp, không phản ảnh thực tế ….thì nhiều vấn đề nổi cộm trong việc thu chi NSNN được các đại biểu đóng góp ý kiến. Đại biểu Bùi Đức Thụ (Lai Châu) chỉ ra rằng, một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, Chương trình mục tiêu quốc gia khá quan trọng của đất nước đã được Quốc hội ưu tiên phát triển nhằm đảm bảo an sinh xã hội, song việc chi NSNN năm 2011 cho các lĩnh vực này lại không đạt dự toán được giao. Đại biểu đề nghị cần nghiêm túc xét xem việc này.

Đại biểu Đỗ Mạnh Hùng (Thái Nguyên) lại chỉ rõ một số “Không” còn tồn tại trong quá trình thu chi ngân sách, đó là: không đúng thời gian (chậm giải ngân); không phân bổ được vốn giao từ đầu năm; không đủ thủ tục; không đúng cơ cấu chương trình đã được Thủ tướng phê duyệt; không đúng đối tượng, mục tiêu; không sát thực tế dẫn đến không sử dụng được hoặc phải điều chỉnh, thay đổi nhiều lần... Những “không” này chính là miếng đất để lách, để có thể lợi dụng, sinh ra tiêu cực, tham nhũng. “Đây là điều chúng ta cần phải suy nghĩ để khi sử dụng ngân sách cho năm 2013, và những năm tiếp theo được tốt hơn” – đại biểu Hùng nhấn mạnh. 

Riêng vấn đề sửa đổi hiến pháp, vấn đề cộm cán nhất trong kỳ họp này thì: 
ông Dương Trung Quốc, người bị đánh giá “phản biện trung thành số 1”, do lần này chắc mẩm chẳng còn được tái (tái cơ cấu) đã nói toẹt ra:

Trong các bản Hiến pháp đã đề cập rất nhiều vấn đề liên quan đến quyền của người dân, trong đó có quyền dân thể hiện quyền phúc quyết của mình. Vậy nhưng ta vẫn cứ treo suốt 68 năm qua. Không phải chuyện gì xa lạ mà là những vấn đề rất gần mà ta đã nhiều lần đề cập.

Thứ nhất, quyền tự do hội họp và biểu tình như đã nêu ngay trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp nào cũng được nhắc tới. Rồi luật Biểu tình mà cho đến những kỳ họp gần đây nhất đã nhất trí soạn thảo, coi đó là công cụ quản lý xã hội và thể hiện quyền của người dân.

Thứ hai là quyền lập hội. Người dân phải có cơ hội và diễn đàn để thể hiện quyền của mình. Dự thảo luật về hội chúng ta cũng đã bàn thảo rất nhiều lần rồi. Sửa đi sửa lại không ít lần, mà giờ vẫn gác lại.

Thứ ba là trưng cầu dân ý, vấn đề phổ quát của toàn thế giới và trong tất cả các văn bản đều đề cập tới. Tôi đã có cơ hội cùng các nhà lãnh đạo đi khảo sát ở các nước, hình như cũng có cơ quan được phân công chủ trì xây dựng luật. Nhưng cho đến giờ vẫn chưa có công cụ ấy. Vậy người dân thể hiện ý nguyện của mình ở diễn đàn nào, định lượng như thế nào? Không có. Bất kỳ lúc nào ta cũng nói đến chuyện ý kiến nhân dân, nhưng toàn là chuyện nhân danh cả thôi…



(*)Xin chú ý –Các vị có ý kiến “hơi phản biện” đều dùng đại từ nhân xưng “Ta” hoặc “Chúng Ta” để cùng chịu trách nhiệm (hoặc kéo cả toàn dân mà họ đại diện vào cùng chịu trách nhiệm?) chứ không phải đứng ở một góc đối lập nào cả! 

Vậy mà, ngay lập tức cái số “còn Đảng còn mình” đã bật lên phản công dữ dội và… nhao nhao lên những ý kiến bảo vệ bằng được “đường lối cực kỳ sáng suốt của đảng ta” ở Quác Hội 

Hãy cắn răng, bịt mũi mà đọc nè:

(miễn đọc những gì thằng điên Hoàng hữu (vô) Phước, nghị sỹ ngoài đảng nhưng đảng tính còn hơn cả tổng bí thư ….để khỏi nôn ra computer mà chỉ lướt qua mấy lời phát ra từ những cái miệng không một xu trí não: 
Đất nước Việt Nam hiện nay rất phát triển về kinh tế...
“Đồng tình với lập luận của ông Hoàng Hữu Phước, đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa cho rằng thể chế chính trị Việt Nam đã xây dựng rất hoàn chỉnh. Đất nước Việt Nam hiện nay rất phát triển kể cả kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và vị thế ngoại giao. Nếu đưa Luật biểu tình vào trong thời điểm này là “chưa phù hợp và phải cân nhắc kỹ lưỡng”.
rất phát triển về kinh tế...nên làm gì có người nghèo...
Đại biểu Nghĩa cho rằng “chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ gấp vạn lần chế độ tư bản, có vấn đề gì chúng ta có Mặt trận, có HĐND, có chính quyền, vừa rồi có Luật khiếu nại, Luật tố cáo”. Đó là chưa kể vấn đề biểu tình có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia vì bị kẻ xấu lợi dụng. “Chúng ta nên tăng cường đối thoại trực tuyến, ví dụ những vấn đề gì nhạy cảm, bức xúc, tranh chấp đất đai hoặc tình hình biển Đông thì cứ đối thoại”, ông Nghĩa đề xuất.

Cũng bày tỏ sự đồng tình, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cho rằng dù trong Hiến pháp năm 1992 ghi công dân có quyền biểu tình theo pháp luật, nhưng chưa đến lúc phải xây dựng thành luật riêng. “Biểu tình có 2 mặt là ủng hộ và phản đối, nhưng thường người ta nói đến biểu tình là nói đến phản đối. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta có Mặt trận, có khối đại đoàn kết toàn dân, vì sao chúng ta lại cho tổ chức biểu tình?”…
rất phát triển về kinh tế...nên làm gì có trường tre...
...vách đất như thế lày???
Đại biểu Tùng cho rằng tự do dân chủ không phải là biểu tình, cái chính là làm sao chăm lo phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. “Tôi cho cái đó mới là cơ bản, mới là cái đảm bảo tự do dân chủ, quyền dân chủ của nhân dân”, ông Tùng lập luận và đề nghị không nên vội vàng đưa luật này vào chương trình xây dựng luật và pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa 13, nhất là khi Việt Nam đang sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992.”

Xem ra cái “thiểu số” có lý này sẽ còn bị cái “đa số trung lý” kia át giọng khá lâu…

Tuy nhiên, vẫn cứ hoan nghênh sự cựa quậy bước đầu của mấy ông bà nghị “thoái hóa tích cực”! Biết đâu đấy chẳng có tác dụng thúc đẩy cho sự bãi nhiệm toàn bộ quốc hội của đảng ngay trong cái khóa 13 năm 2013 này?

http://to-hai.blogspot.com/2013/05/nhat-ky-mo-lai-mo-lan-thu-50-ai-bieu.html

Tình hình và xu hướng chính trị tại Việt Nam hiện nay

Tình hình và xu hướng chính trị tại Việt Nam hiện nay

Published on June 1, 2013   ·   No Comments
sangtronghungdung
xem tại đây:

Theo dõi tình hình chính trị Việt Nam, hầu như giới quan sát, từ người Việt đến người ngoại quốc, đều đi đến kết luận giống nhau: Chưa bao giờ Việt Nam yếu như hiện nay.
Tuy nhiên, nói đến cái yếu của Việt Nam, phần lớn đều tập trung vào quan hệ đối ngoại, chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói, ở châu Á, không có nước nào bị Trung Quốc “ăn hiếp” nhiều như Việt Nam. Với Nhật Bản hay Philippines, họ chỉ dòm ngó một hai hòn đảo; với Việt Nam, họ dòm ngó cả chùm đảo và cả một vùng biển mênh mông. Với các nước khác, lâu lâu họ đưa tàu đánh cá hay tàu hải giám lượn qua lượn lại vài vòng thị uy; với Việt Nam, họ tung tàu đánh cá và tàu hải giám ào ạt như vào chỗ không người, hơn nữa, còn bắt bớ, thậm chí, hãm hại cả ngư dân Việt Nam. Cũng có thể nói, trước sự đe dọa của Trung Quốc, không có nước nào có phản ứng nhu nhược như Việt Nam. Nhật Bản dám dọa đánh chìm tàu Trung Quốc, Philippines đem Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế, còn Việt Nam? Ngay cả một lời lên án, họ cũng không dám nói; và khi, trước áp lực của dân chúng, phải nói, thì chỉ nói một cách… thì thầm. Vừa lên án vừa run lẩy bẩy.
Tuy nhiên, cái yếu của Việt Nam còn thể hiện ở nhiều lãnh vực khác nữa. Phân tích những cái yếu ấy, chúng ta dễ thấy xu hướng phát triển của tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay.

Trước hết là lãnh đạo yếu.

Nói đến lãnh đạo chủ yếu là nói đến đảng Cộng sản, và nói đến “yếu” là nói đến tương quan quyền lực với các thiết chế khác. Công thức phân quyền ở Việt Nam, ai cũng biết, là “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý”. Suốt hơn nửa thế kỷ, hầu như mọi quyền lực đều nằm trong tay đảng. Còn nhà nước, như chính lời thú nhận của Phạm Văn Đồng, người làm Thủ tướng lâu nhất ở Việt Nam (1955-1987), với những người quen: Chưa có ai làm Thủ tướng lâu mà bất lực như ông. Ông không những bị lép vế trước Lê Duẩn, Tổng Bí thư, mà còn bị lép vế cả trước Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng. Là Thủ tướng, Phạm Văn Đồng hoàn toàn không có quyền hạn gì trong việc chọn lựa, bổ nhiệm hoặc cách chức các Bộ trưởng hay Thứ trưởng, thậm chí, các giám đốc Sở ở địa phương. Quyền lực tập trung hết trong tay giới lãnh đạo đảng, chủ yếu là Tổng Bí thư. Tuy nhiên, sau Lê Duẩn, rõ ràng quyền lực của Tổng Bí thư cứ giảm dần. Quyền lực của các Tổng Bí thư kế tiếp Lê Duẩn, từ Trường Chinh (14/7/1986-18/12/1986) đến Nguyễn Văn Linh (1986-1991) và Đỗ Mười (1991-1997), không thể so sánh được với Lê Duẩn. Tuy nhiên, dù vậy, họ vẫn giống như những ông vua. Yếu thế, nhưng vẫn là vua. Chỉ từ Lê Khả Phiêu (1997-2001) trở đi, quyền lực của Tổng Bí thư mới bắt đầu mờ nhạt. Hơn nữa, càng lúc càng mờ nhạt. Nông Đức Mạnh (2001-2011) mờ nhạt hơn Lê Khả Phiêu. Đến nay, mờ nhạt nhất là Nguyễn Phú Trọng, người được lên làm Tổng Bí thư từ ngày 19 tháng 1 năm 2011.
Vai trò mờ nhạt của Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ nhất là qua hai lần thua cuộc trước Nguyễn Tấn Dũng. Lần thứ nhất, ở hội nghị Trung ương 6 vào tháng 10 năm 2012, khi Nguyễn Phú Trọng liên kết với Trương Tấn Sang tấn công Nguyễn Tấn Dũng – người được gọi là “đồng chí X” -, nhưng cuối cùng, cả hai đều thất bại. Lần thứ hai, mới đây, ở hội nghị Trung ương 7 vào đầu tháng 5/2013, Nguyễn Phú Trọng lại thất bại trước Nguyễn Tấn Dũng lần nữa khi đề nghị đưa Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị nhưng bị Trung ương đảng bác bỏ. Thế vào đó, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu. Cả hai đều là người của Nguyễn Tấn Dũng.
Có thể nói, trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ có một Tổng Bí thư nào lại thua cuộc một cách thê thảm và nhục nhã đến như vậy.
Nhưng việc Tổng Bí thư và cùng với ông, cả cái Đảng do ông lãnh đạo yếu thế và việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chứng tỏ quyền lực mạnh mẽ của mình như vậy có làm cho chính phủ mạnh hơn không?
Không.
Thủ tướng mạnh. Nhưng chính phủ vẫn yếu. Nguyễn Tấn Dũng mạnh đủ để thoát các đòn tấn công hiểm hóc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang, nhưng chính phủ do ông cầm đầu, trên nguyên tắc, vẫn phải được lãnh đạo bởi đảng. Các chính sách lớn vẫn do đảng quyết định.
Như vậy, ở đây, chúng ta thấy một nghịch lý: Người có chức năng lãnh đạo thì yếu; còn người mạnh lại không thể lãnh đạo. Hậu quả là ở Việt Nam hiện nay, giới cầm quyền, từ đảng đến chính phủ, chỉ quản lý (management) chứ không hề có lãnh đạo (leadership). Sự khác biệt căn bản giữa quản lý và lãnh đạo là với quản lý, người ta chỉ làm theo mệnh lệnh và chỉ nhắm tới những mục tiêu ngắn hạn; nhưng khi không có lãnh đạo, người ta vừa không có tầm nhìn xa lại vừa không có mệnh lệnh cụ thể để thực hiện. Một nền quản lý thiếu lãnh đạo bao giờ cũng vừa thiển cận vừa lúng túng, vá víu và đầy mâu thuẫn. Chúng ta có thể thấy rõ những điều đó qua các chính sách và cung cách làm việc của nhà cầm quyền Việt Nam những năm gần đây. Rõ nhất là qua cuộc thảo luận về thay đổi Hiến pháp do chính họ đề xướng. Thoạt đầu, bảo không có vùng cấm trong thảo luận; sau, lại lên án kịch liệt những người kiến nghị. Thoạt đầu, hứa hẹn như một sự thay đổi lớn lao; sau, cứ thu hẹp dần lại. Thoạt đầu, định thay đổi cả tên nước; sau, lại loại bỏ ý định ấy, v.v.. Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ lúng ta lúng túng của họ trong việc đấu tranh với Trung Quốc để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ. Ngoài vài lời thề nguyền là sẽ không bán nước, cho đến nay, vẫn không có ai trong giới lãnh đạo phác họa được một chiến lược rõ ràng, chưa nói đến việc có hiệu quả hay không. Một chút rõ ràng cũng không có.
Đảng lãnh đạo yếu, chính phủ cũng yếu, hậu quả tất nhiên là đất nước yếu theo. Tất cả những sự nhu nhược được đề cập ở phần đầu bài viết này đều là hậu quả của hai cái yếu ấy. Ngư dân Việt Nam đi đánh cá ngoài biển cả bị “tàu lạ” đâm chìm, bắt bớ hay giết chết, không có ai can thiệp. Dân chúng hàng ngày phải ăn uống hoặc tiêu dùng những thứ độc hại được nhập cảng chính thức hay qua các con đường không chính thức không hề được ai bảo vệ. Kinh tế ngày càng kiệt quệ, gánh nặng nợ nần trên đầu người càng ngày càng chồng chất, không có ai quan tâm. Những người có lòng với đất nước đứng lên chống lại Trung Quốc bị đối xử như tội phạm. Mở các trang báo ngoại quốc, mỗi khi thấy tin tức về Việt Nam, đoán mười lần đến chín lần đúng: tin xấu. Nếu không phải tham nhũng thì là trấn áp.

Đảng yếu, chính phủ cũng yếu. Vậy thì ai mạnh?

Thứ nhất, các phe phái mạnh.
Thật ra, đảng Cộng sản lúc nào cũng có nạn phe phái. Trong hồi ký của mình, Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Ban chấp hành Trung ương đảng và Tổng biên tập báo Nhân Dân, giám đốc nhà xuất bản Sự Thật, kể, lúc Hồ Chí Minh còn sống và ngay cả trước mặt Hồ Chí Minh, các thành viên trong Bộ Chính trị cũng không thèm nói chuyện với nhau. Hồ Chí Minh khuyên mấy cũng không được. Nhưng, dù vậy, những sự xung khắc ấy chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân. Không có phe hay nhóm nào dám công khai chống lại phe Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Thành ra, Lê Duẩn và dưới bóng Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tha hồ tác oai tác quái. Sau này, các phe phái nổi lên rõ hơn, nhưng không có lúc nào các phe phái lại tấn công nhau một cách công khai như bây giờ. Trước, nếu tranh chấp, hầu như chỉ dừng lại trong phạm vi mấy người trong Bộ Chính trị với nhau; bây giờ, chúng bày ra trước Trung ương đảng gồm cả gần 200 người; hơn nữa, còn tràn ra cả trước quần chúng, dù được ngụy trang dưới mật danh “đồng chí X”.
Thứ hai, vai trò của các nhóm lợi ích. Cần nói ngay, ở nước nào cũng có các nhóm lợi ích luôn tìm cách ảnh hưởng đến các chính sách của nhà nước. Ở các quốc gia dân chủ, các nhóm lợi ích ấy có thể là các nhà tài phiệt, các công đoàn, các tổ chức xã hội dân sự, các hội nghề nghiệp, v.v.. Các nhóm lợi ích ấy thường hoạt động công khai, một cách trực tiếp, dưới hình thức kiến nghị hoặc thậm chí, đình công và biểu tình, hoặc qua trung gian các cơ quan lobby chính thức, chuyên đi ngả tắt. Ở Việt Nam, trước đây, ngay cả sự hiện diện của cái gọi là “nhóm lợi ích” như thế cũng không thể có, thậm chí, không thể tưởng tượng được. Thế nhưng gần đây, các nhóm lợi ích ấy lại phát triển rất mạnh và khuynh đảo cả tình hình chính trị Việt Nam.
Theo Trần Kinh Nghị, chiến thắng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Nguyễn Phú Trọng trong hai kỳ hội nghị 6 và 7 của Trung ương đảng vừa qua chính là chiến thắng của nhóm lợi ích đối với nhóm bảo thủ. Mới đây, trong bài “Đổi luật chơi trong đảng”, nhà bình luận chính trị Ngô Nhân Dụng cũng có quan niệm tương tự khi cho lý do chính khiến Nguyễn Tấn Dũng chiến thắng liên tiếp là nhờ biết sử dụng một thứ luật chơi mới: dựa trên tiền.
Thường, để cai trị, người ta sử dụng một trong hai, hoặc cả hai yếu tố: quyền và tiền. Quyền để khai thác lòng sợ hãi; tiền để kích thích lòng tham. Trước, người ta chỉ dùng quyền; bây giờ, người ta dùng cả quyền lẫn tiền. Theo Ngô Nhân Dụng:
“Từ khi làm thủ tướng năm 2006, […] Nguyễn Tấn Dũng tập trung quyền điều động các xí nghiệp quốc doanh vào phủ thủ tướng, thay vì chia quyền cho các “bộ chủ quản” theo lối cũ. Từ đó, người đóng vai thủ tướng tạo cơ hội kiếm tiền cho tay chân của mình; phân phát cơ hội kiếm tiền để mua lòng trung thành của đồng đảng. Các ủy viên Trung Ương Ðảng được chia chỗ trong Hội Ðồng Quản Trị của các doanh nghiệp nhà nước. Các chương trình kinh tế đều nhằm tạo cơ hội kiếm tiền cho những thủ túc chứng tỏ lòng trung thành. Khi người dân Việt Nam nhận thấy cả guồng máy cai trị là một mạng lưới tham nhũng chằng chịt liên kết với nhau, người cầm đầu mạng lưới đó là ông thủ tướng.”
Như vậy, cái mà Trần Kinh Nghị gọi là nhóm lợi ích ấy chủ yếu là những kẻ vừa có quyền vừa có tiền. Sức mạnh của Nguyễn Tấn Dũng so với Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang chính là sức mạnh của nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy.

Sự thao túng của nhóm lợi ích ấy dẫn đến hai hệ quả:

Thứ nhất, nó tạo ra một vẻ dân chủ giả, thường được gọi là dân chủ trong nội bộ đảng (intra-Party democracy). Bộ Chính trị đề nghị kỷ luật Thủ tướng, Trung ương đảng bác bỏ: Bộ Chính trị chịu thua. Tổng Bí thư đích thân đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị, Trung ương đảng bác bỏ: Tổng Bí thư chịu thua. Giới quan sát chính trị quốc tế, ở xa, dễ ngỡ đó là dân chủ. Nhưng không phải. Một là, thứ dân chủ nội bộ ấy không biến thành dân chủ xã hội (social democracy). Hai là, nó chỉ là cuộc đấu đá quyền lực trong nội bộ. Chứ không phải là dân chủ.
Thứ hai, sự thắng thế của các nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy biến đảng Cộng sản thành một đám mafia không những khuynh loát chính trị mà còn vét kiệt hết tài nguyên của đất nước và tài sản của dân chúng, ngay cả của những người dân chưa ra đời (với số nợ khổng lồ nó tạo ra!).
Điều đáng chú ý là tất cả các hiện tượng trên, từ chuyện đảng và chính phủ yếu đến chuyện phe phái và các nhóm lợi ích mạnh đều cũng xuất hiện ở Trung Quốc. Trong bài “The end of the CCP’s resilient authoritarianism? A tripartite assessment of shifting power in China” đăng trên tạp chí The China Quarterly năm 2012, Cheng Li cũng phân tích các hiện tượng tương tự tại Trung Quốc. Chỉ có hai sự khác biệt lớn. Thứ nhất, ở mức độ: Cũng yếu, nhưng cái yếu của đảng và chính phủ Việt Nam ở mức trầm trọng hơn hẳn ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, quyền hạn của Chủ tịch đảng chưa bao giờ bị thách thức một cách nghiêm trọng như ở Việt Nam. Quyền lực của Tập Cận Bình cũng như của Hồ Cẩm Đào chưa bao giờ lớn bằng Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình nhưng dù sao vẫn nghiêng trời lệch đất; cả Trung ương đảng cũng không dám chống lại. Thứ hai, theo Cheng Li, nhiều nhà phân tích chiến lược tin tưởng: đảng Cộng sản Trung Quốc có thể yếu và càng ngày càng yếu, nhưng đất nước Trung Quốc thì vẫn mạnh.
Còn Việt Nam?
Chính cái mạnh không cưỡng nổi của Trung Quốc là một tai họa cho Việt Nam. Việt Nam càng yếu, cái họa ấy càng lớn.
Theo VOA


Xem tin nguồn: http://ttxva.org/tinh-hinh-va-xu-huong-chinh-tri-tai-viet-nam-hien-nay/#ixzz2UxKAQPJs
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook