Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

Tham nhũng nghìn tỉ thời ông Trọng được lôi ra phục vụ Hội nghị Trung ương 7?


Trang chủ > CHÍNH TRỊ > Tham nhũng nghìn tỉ thời ông Trọng được lôi ra phục vụ Hội nghị Trung ương 7?

Tham nhũng nghìn tỉ thời ông Trọng được lôi ra phục vụ Hội nghị Trung ương 7?

10/04/2013
Cố tình “tạo điều kiện” cho doanh nghiệp, làm thất thu thuế của nhà nước hàng nghìn tỉ đồng, được doanh nghiệp lại quả biệt thự triệu đô. Tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng diễn ra dưới thời Bí thư Thành ủy Nguyễn Phú Trọng cuối 2004. Các cá nhân liên quan: Phan Văn Khải,Nguyễn Công Tạn, Nguyễn Phú Trọng, Hoàng Văn Nghiên, Vũ Hồng Khanh … Gần 10 năm sau, hàng nghìn biệt thự bị “phanh” lại khi xin cấp sổ đỏ. Các cơ quan Trung ương và Hà Nội đang đau đầu về vụ truy thu hàng nghìn tỉ tại khu đô thị lớn nhất và sang trọng nhất cả nước – CIPUTRA, Phú Thượng, Tây Hồ. Sắp tới Hội nghị TW 7, vụ này lại được  móc ra đặt vào tay Nguyễn Bá Thanh để xem Ban Nội chính hành xử ra sao.
Nhằm giúp doanh nghiệp trốn mức thuế sắp áp dụng từ 1/1/2005, ngày 14/12/2004, Hoàng Văn Nghiên (Chủ tịch Hà Nội), dĩ nhiên được Thành ủy đứng đầu là Bí thư Trọng bật đèn xanh đã ban hành quyết định “ưu tiên” cho CIPUTRA nộp thuế theo mức “đặc cách”. Quyết định do Hoàng Văn Nghiên ban hành đã khiến nhà nước thiệt hại trên 3000 tỉ đồng. Được hưởng siêu lợi nhuận này là nhà đầu tư bất động sản CIPUTRA. Phương pháp ông Nghiên, ông Trọng “tính giúp” cho CIPUTRA đến bây giờ đang gây ra tranh cãi lớn.
Ngay tại Hội nghị toàn quốc về chống thất thu thuế 3/2013 vừa qua, trường hợp CIPUTRA bị bộ Tài chính (dưới sự chỉ đạo của đồng chí X) nêu đích danh là vụ trốn thuế lớn nhất lịch sử Việt Nam và yêu cầu các cơ quan chức năng sớm điều tra, truy cứu trách nhiệm cá nhân kể cả có cán bộ hiện làm rất to.
Dưới sức ép phe phái, vừa qua, Hà Nội buộc phải thúc CIPUTRA nộp lại 1400 tỉ đồng trong số hơn 3000 tỉ đã bị cố tình tính sai. Hàng nghìn biệt thự triệu đô không được cấp sổ đỏ bởi đất CIPUTRA thuê có thời hạn 50 năm bị cố tình áp sai thuế một cách nghiêm trọng. Hiện, liên doanh bất động sản kinh doanh khu đô thị CIPUTRA đứng trước bờ vực phá sản. Hàng trăm héc ta đất vàng không sử dụng cả chục năm. Khu mua sắm CIPUTRA Mall (đường Lạc Long Quân) khổng lồ đang bỏ hoang là minh chứng cho sự lãng phí, tiêu cực khủng khiếp dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng.
Để dựng bình phong che giấu tiêu cực, hàng chục biệt thự triệu đô đã được biếu không cho các “gia đình chính sách” (lãnh đạo tiền bối như Nguyễn Văn Trân. Hà Nội lại đem mảnh đất vàng Võng Thị ngay sát Hồ Tây “hiến” cho Tổng bí thư Nông Đức Mạnh (lúc còn đương chức) làm biệt thự riêng để chỉ đạo Thanh tra CP “làm êm” vụ CIPUTRA. Mảnh đất vàng này đã từng được “cơ cấu’ cho 1 đại tướng lừng danh. Do việc chạy lễ này của Hà Nội mà đại tướng có nguy cơ lâm cảnh vô gia cư vì biệt thự cụ này đang ở nằm trong phạm vi quy hoạch bảo tồn quần thể quảng trường Ba Đình.
Hiện, dân tình đang xôn xao rằng đồng chí X ra đòn hiểm thật, cho quân chọc vào hai vụ tiêu cực đất đai (một tại Đà Nẵng, một tại Hà Nội), đều hàng nghìn tỉ và liên quan trực tiếp đến người đứng đầu bộ máy Nội chính, Chống tham nhũng khiến các cơ quan này vừa bày ra đã có nguy cơ chết yểu.

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

GIẢI PHÓNG: Nỗi Kinh Hoàng Của Người Dân Nam Việt



GIẢI PHÓNG: Nỗi Kinh Hoàng Của Người Dân Nam Việt
---
Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Kitô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng. Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên…, Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế. Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…

Còn nhớ ngày 30 Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kềm, Mỹ hãm” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước… Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…

Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!

Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi… Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…

Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”

Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…

Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc! Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh …

Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.

Tiến Sỹ Lê Hiển Dương
Hiệu Trưởng-Đại Học Đồng Tháp
Đồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010

http://www.vietthuc.org/2010/06/01/“giải-phong”-nổi-kinh-hoang-của-người-dan-nam-việt/

Phi Vũ Hoang Nguyen Trinh Khanh Tuan Kim Anh Le Phượng Hồng Kim Anh Nguyễn Doanh Chau Nhà Văn Thụyvi Ashley Thompson Tôn Nữ Mậu Thân
Thích ·  ·  

Sắp đổi tiền


Sắp đổi tiền?

500Hình như không ngẫu nhiên một bãi trông xe nào đó từ chối nhận tiền mệnh giá 500 đồng. Có thể tưởng tượng được không tờ tiền mệnh giá 500 đồng giờ chỉ có thể mua nổi một quả ớt.
Tỷ giá vnd/usd đã tăng vọt trong 3 ngày cuối tuần. Ừ, thì đó là dịp giỗ tổ, là dịp tiêu tiền, nhưng với việc những bà nội trợ thắt chặt chi tiêu đến mức lập ra các “Hội đi chợ 98 ngàn đồng mỗi ngày” thì rõ ràng, dịp nghỉ lễ hoàn toàn không phải là cái cớ để người dân đổi ngoại tệ đi du hí.
Thủ phạm, rất có thể chỉ là một lời thở than mang tính chất thắc mắc rất đỗi cầu bất cầu bơ của một ai đó, ở một đâu đó, rằng: Liệu đổi tên nước, theo một ý kiến cá nhân của một ai đó không nhớ nổi, thì liệu sẽ phải đổi tiền! Nhắc lại, trên mỗi tờ tiền, đều có in tên nước và quốc huy.
Nhưng vì sao mấy chữ “đổi tiền”, một hoạt động kinh tế về bản chất là bình thường, dù trước một thực trạng kinh tế bất thường, lại nhạy cảm đối với người dân đến mức biến họ trở nên ngây thơ như vậy?
Có nguyên nhân lịch sử của nó.
Sách “kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá” của tướng Công an Phạm Minh Chính do NXB Chính trị quốc gia ấn hành cho biết 4 chi tiết liên quan đến lần đổi tiền đầu tiên năm 1959: Chỉ diễn ra trong 5 ngày, từ 28.2 đến 3.4.1959. Mức đổi ngay cho mỗi hộ là 2 triệu đồng tiền đang lưu hành. Trong 5 ngày này “giá cả tăng vọt”. Và: Lần đổi tiền này mang ý nghĩa quản lý nhà nước về tiền tệ và phân bố lại tài sản trong dân cư.
Sau này, còn có 2 lần đổi tiền nữa. Một vào ngày 3.5.1978 để thống nhất tiền tệ trên toàn quốc sau giải phóng. Mệnh giá đổi tiền bấy giờ là 1 đồng tiền mới = 1 đồng tiền cũ ngân hàng miền Bắc= 0,8 đồng tiền ngân hàng cũ miền Nam. Và lần đổi tiền 19.4.1985 chủ yếu do áp lực lạm phát, khi đó đã lên tới mức phi mã “3 con số”.
Nhìn lại lịch sử, cần phải nói một cách thành thật và công bằng, lần đổi tiền nào thì người dân luôn chịu phần thiệt thòi. Và trong tiềm thức, họ sợ hãi hai chữ “đổi tiền”. Đây thực chất cũng là nguyên nhân thâm căn cố đế đã trở thành một phản xạ bản năng, khiến cho việc tích lũy mồ hôi, nếu như không muốn nói là “chôn dấu”, luôn là vàng.
Hôm qua, trên Lao động, đại diện NHNN đã chính thức bác bỏ tin đổi tiền, bởi một lẽ rất đáng tin, rằng: Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ tiền mặt trong lưu thông rất cao. Thậm chí, để in được lượng tiền mặt như thế thì phải mất vài năm. Huống chi việc đổi tiền phải “Căn cứ vào rất nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế-xã hội có phù hợp không? Cơ cấu đồng tiền còn hợp lý không; hay bộ tiền có bị làm giả quá nhiều không, khiến người dân mất lòng tin vào đồng tiền?”
Giờ đây, không quốc gia, chính thể nào cưỡng từ đoạt lý đến mức hết tiền thì in thêm, bất chấp giá trị mua thực tế của đồng tiền. Cũng không phải muốn đổi tiền là nói đổi.
Nhưng để một nguyên lý tất yếu của kinh tế có thể xua tan những hoài nghi có căn nguyên lịch sử, để những tin vịt “đổi tiền” sẽ chỉ được coi như “tin ngày cá” hoặc nhận được nụ cười khẩy của dân chúng, thì có lẽ những lời lẽ bác bỏ của người có trách nhiệm là chưa đủ.
Một tờ báo, cũng hôm qua, mở một chuyên mục gọi là “Sống sót trong cuộc khủng hoảng”. Và lời tâm sự đầu tiên là lời than thở “3 năm qua, mình đang nghèo bị nghèo 2 lần nghèo. Lương giảm, ai cũng thấy rõ điều này. Nhưng rổ CPI của gia đình mình thì tăng khủng khiếp. Thu nhập giảm 30%, CPI thì tăng vài chục %, làm sao để sống được đây”.
Có thể, những người công nhân đang “sống sót” bằng việc nhịn bữa sáng, có thể những bà nội trợ, đang tồn tại bằng một cái “Dây chuối 98 ngàn” sẽ không hiểu nhiều về chỉ số lạm phát. Nhưng thực tế là lạm phát đang làm đồng tiền mất giá bình quân 2 con số mỗi năm.
Và vì thế, để có được một nụ cười khẩy trước những cái tin đồn thì phải làm sao lạm phát không làm vô nghĩa thêm những đồng tiền phải đổi bằng mồ hôi thêm nữa. Hình như không ngẫu nhiên một bãi trông xe nào đó từ chối nhận tiền mệnh giá 500 đồng.
Có thể tưởng tượng được không tờ tiền mệnh giá 500 đồng giờ chỉ có thể mua nổi một quả ớt

Sở hữu tư nhân hạn chế về đất đai?


Sở hữu tư nhân hạn chế về đất đai?

ap_20110823080104630Đôi lời của ABS: Đây là bài viết thứ 321 của TS Nguyễn Quang A cho tờ Lao động Cuối tuần, nhưng lại là bài “giã biệt” khi bị từ chối khéo cùng lời thông báo chấm dứt chuyên trang giành riêng cho ông trong 6 năm qua. Nghe nói việc chấm dứt này là chấp hành một “lệnh miệng” nào đó của ông Đinh Thế Huynh. Từ ngày có bản Kiến nghị 72 tới nay, những thứ “lệnh miệng”, “truyền miệng” kiểu này xuất phát từ cấp chóp bu dường như nhiều hơn.
Trong quá trình góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 vừaqua có 2 ý kiến về đất đai khác với Dự thảo, và rất đáng chú ý. Đó là ý kiến của Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Hiến pháp hiện hành (1992) không có quy định về thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội, còn Dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 lại có quy định như vậy, tức là tồi hơn quy định của Hiến pháp 1992, cho nên các ý kiến của Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề xuất bỏ phần này trong Dự thảo là hợp lý.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề xuất phương án thừa nhận sở hữu tư nhân hạn chế về đất đai bên cạnh đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.  Đấy là một kiến nghi tốt hơn quy định của Hiến pháp hiện hành và của Dự thảo và như thế đáng được hoan nghênh. Tuy vậy, kiến nghị này cũng vẫn chưa thật hoàn chỉnh.
Cho đến 1980 tại Việt Nam đã tồn tại đất thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu cộng đồng và sở hữu khác. Nói cách khác có đa sở hữu về đất đai. Chỉ từ 18-12-1980 khi Quốc hội Việt Nam sao chép Hiến pháp Liên Xô, 11 năm trước khi Liên Xô tan rã, với quy định “đất đai… thuộc sở hữu toàn dân” vào Điều 19 của Hiến pháp 1980, và Hiến pháp 1992 cùng những lần sửa đổi vẫn giữ nguyên khái niệm vay mượn rất xa lạ ấy, thì khái niệm “sở hữu toàn dân” về đất đai mới xuất hiện trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Và khái niệm học mót ấy đã gây ra bao nhiêu đau khổ cho người Việt Nam nói chung và nhất là cho nông dân Việt Nam.
Đất của nhà nước thì phải gọi đích danh là đất thuộc sở hữu nhà nước. Nó có thể thuộc sở hữu của chính quyền trung ương hoặc của các chính quyền địa phương. Đừng bảo nó thuộc sở hữu toàn dân. Đấy là cách để Nhà nước và các quan chức nhà nước được phân công quản lý đất đai trốn trách nhiệm của người chủ sở hữu đất và là một nguyên nhân chính của việc quản lý tồi đất công. Cho nên phải bỏ khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai.
Đất của nhà nước cũng phải được đăng ký như đất của tư nhân. Đất công có thể được bán cho tư nhân và khi đó đất ấy thuộc sở hữu tư nhân. Nhà nước có thể mua (hay trưng mua) đất của tư nhân và khi đó đất ấy chuyển từ sở hữu tư nhân sang sở hữu nhà nước. Nhà nước, với tư cách chủ sở hữu đất, có quyền và nghĩa vụ hệt như các chủ sở hữu đất khác trước pháp luật. Và Nhà nước có thể bị kiện hệt như các chủ sở hữu khác khi có tranh chấp về đất đai.
Hiện tại, trên danh nghĩa, tất cả đất đều của Nhà nước. Việc chấp nhận sở hữu tư nhân về đất cũng chỉ là trả lại cho người dân đất thực sự thuộc về họ (thí dụ đất ở, đất nông nghiệp do cha ông họ khai phá hoặc mua lại một cách hợp pháp và để lại cho họ). Như thế phần lớn đất vẫn thuộc sở hữu nhà nước.
Đất của tư nhân phải thuộc sở hữu tư nhân và chủ sở hữu phải có toàn quyền của một chủ sở hữu và không có hạn chế riêng nào cả trừ những hạn chế được luật định (cho tất cả các chủ sở hữu đất, thí dụ liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng, hạn điền, vân vân).
Có thể hiểu sự “hạn chế” trong kiến nghị của Mặt trận về sở hữu tư nhân về đất đai theo cách: “hạn chế” ở quy mô ban đầu, tức là thừa nhận đất ở, đất nông nghiệp dưới một hạn điền nhất định thuộc sở hữu tư nhân, các loại đất được thuê, được cấp cho các mục đích khác vẫn thuộc sở hữu nhà nước và có thể biến thành đất sở hưu tư theo quy định của luật (qua việc mua khi hết hạn thuê, hoặc đền bù bổ sung cho nhà nước). Nếu đúng là kiến nghị của Mặt trận cần được hiểu như vậy thì đấy là kiến nghị rất tốt và nên chấp nhận (với sự thay sở hữu toàn dân bằng sở hữu nhà nước). 
Người ta sợ nếu chấp nhận sở hữu tư nhân sẽ xảy ra chuyện “tư nhân hóa” đất đai. Tư nhân hóa đất đai chỉ có nghĩa là đất của nhà nước được bán cho tư nhân. Nó hoàn toàn thuộc quyền của Nhà nước vì vậy nỗi sợ này là giả, là không thể có.
Người ta cũng sợ khi đó người nông dân sẽ mất đất vào tay địa chủ. Đó là nỗi lo bò trắng răng. Mua bán đất phải tuân thủ luật do Nhà nước quy định, đất phải được quản lý (thí dụ đăng ký, nộp thuế đất,…) theo quy định của Nhà nước. Nó giúp cho việc tích tụ đất diễn ra một cách suôn sẻ, tự nguyện, không gây ra căng thẳng xã hội và góp phần tích cực vào sự phát triển của đất nước. Chính vì thế cũng chẳng có nỗi sợ này nếu Nhà nước làm đúng việc của mình.
Chắc chắn có vấn đề lịch sử liên quan đến sở hữu đất, song đấy là vấn đề cần và có thể giải quyết, chứ không thể né tránh. Cần có kế hoạch và lộ trình để giải quyết các vấn đề đất đai do lịch sử để lại. Theo tôi có thể giải quyết vấn đề này trong vòng 15-20 năm. Những kinh nghiệm của Nam Phi và các nước khác có thể rất quý đối với Việt Nam.  Đây là vấn đề phức tạp, nhất thiết phải giải quyết và không thể né tránh. Càng để lâu càng phức tạp và không phải là giải pháp mà thực sự là đẩy gánh nặng cho các thế hệ mai sau.
Chính vì thế, chẳng có lý do gì để không thừa nhận đa sở hữu về đất đai trong Hiến pháp và Luật đất đai.
N.Q.A.

TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH NÓI RÕ SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT - TRUNG




 

GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC KHÔNG TRUYỀN THỐNG HỮU NGHỊ,

CŨNG KHÔNG CÓ TƯƠNG ĐỒNG VỀ Ý THỨC HỆ


Nguyễn Trọng Vĩnh

Trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 10/2011 của đoàn Việt Nam do TBT Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu, TBT Hồ Cẩm Đào nói với TBT Nguyễn Phú Trọng câu: “Truyền thống hữu nghị giữa 2 Đảng và 2 nước là tài sản quý báu cần gìn giữ và truyền cho các thế hệ mai sau”… và từ trước đến nay trong các cuộc gặp gỡ cấp cao hai bên, phía Trung Quốc thường nhắc lại: “Hai nước chúng ta song núi liền nhau, văn hóa tương đồng, hai đảng cùng chúng ý thức hệ là cơ sở của tình hữu nghị bền vững…”.

Dựa trên diễn biến thực tế, thử phân tích xem có đúng thế không?

Khách quan mà nói, tình hữu nghị Việt – Trung có biểu hiện trong hai thấp kỷ từ 1950 đến 1970. Trong thời gian đó, Trung quốc giúp ta khá lớn về nhiều mặt. Trong sự giúp đỡ đó, có lợi ích trước mắt và động cơ sâu xa của họ, vừa giúp ta vừa hạn chế thắng lợi của ta. Dù sao ta cũng công nhân là có tình hữu nghị Trung  – Việt. Còn ra thì sao?

Không kể Trung Quốc đã đô hộ nước ta 1000 năm, đến quân Nam Hán lại mang quân xâm lược nước ta, rồi nhà Tống, Mông Cổ sau khi chinh phục xong làm chủ Trung Quốc cũng 3 lần xâm lược nước ta, nhà Minh đem quân xâm lược, đánh bại Hồ Quý Ly, lại đô hộ nước ta 10 năm, nhà Thanh huy động 20 vạn quân chiếm đóng thủ đô Thăng Long. Năm 1974 Trung Quốc huy động hải quân mạnh tiêu diệt bộ phận lực lượng Việt Nam Cộng hòa đóng giữ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và cướp quần đảo từ tay Việt Nam Cộng hòa, lại trẹo họng nói là “thu hồi”. Tháng 2/1979, Đặng Tiều Bình huy dộng 60 vạn quân xâm lăng các tỉnh biên giới nước ta. Gần đây, dựa vào cái “lưỡi bò” bất hợp pháp thành lập cái gọi là huyện Tam Sa, thực hiện mọi thủ đoạn, chuẩn bị điều kiện hòng chiếm nốt Trường Sa của chúng ta. Thế là chỉ có 2 thập kỷ (50 – 70) nói trên tạm gọi là “hữu nghị”, còn thì suốt chiều dài lịch sử, truyền thống của Trung Quốc là truyền thống xâm lược nước ta.

Phía ta thì sao?

Năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán để khẳng định nền độc lập của nước Nam.

Năm 1075, Lý Thường Kiệt đánh tan quân xâm lược nhà Tống và có bài thơ "thần" đầy khí phách hào hung:

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Từ năm 1258 đến 1288, quân dân nhà Trần 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông hùng mạnh từng gây kinh hoàng cho nhiều nước từ Á sang Âu, đặc biệt năm 1288 dưới sự chỉ huy của Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn, quân ta đánh thắng trận Bạch Đằng oanh liệt danh tiếng lẫy lừng khiến nhà Nguyên khiếp vía không xâm pham lần thứ tư.

Lê Lợi, Nguyễn Trãi 10 năm gian khổ chống ách đô hộ nhà Minh, cuối cùng giết Liễu Thăng, dọa Mộc Thạch hết hồn rút chạy đến 1428 tống cổ Vương Thông về nước, khôi phục độc lập cho nước nhà.

Năm 1789, Hoàng đế Quang Trung hành quân thần tốc đánh tan 20 vạn quân nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín mà chạy mới thoát chết.

Tháng 2/1979, quân dân các tỉnh biên giới, mặc dầu lực lượng ít ỏi, đã ngoan cường đánh trả 60 vạn quân xâm lược tàn ác, buộc Đặng Tiểu Bình phải rút quân.

Nước ta ngoài việc phải chống xâm lược của Trung Quốc qua các thời kỳ, còn phải chống xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Vậy là truyền thống nước ta là truyền thống chống xâm lược.

Rõ ràng truyền thống nước ta vầ truyền thống Trung Quốc đối nghịch nhau suốt chiều dài lịch sử, thì làm gì có “tình hữu nghị quý báu truyền cho các thế hệ mai sau”!

GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ TƯƠNG ĐỒNG VỀ Ý THỨC HỆ

Ngay từ 1962, ông Đặng Tiểu Bình đã muốn từ bỏ mô hình XHCN kiểu Stalin và đi theo con đường khác với câu nói: “Mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt”. Ông ta bị Mao Trạch Đông xử lý kỷ luật. Sau khi được phục hồi và sau khi ông Mao chết, năm 1978 ông Đặng lại nói lại câu nói đó và thực tế bắt đầu rẽ theo con đường TBCN mặc dầu vẫn nói là “xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc”. Để kết thân với Mỹ, tháng 2/1979 Đặng Tiểu Bình xua quân đánh Việt Nam là đã gửi thông điệp cho Nhà trắng rằng: “Giữa chúng tôi (Trung Quốc) và Việt Nam không cùng ý thức hệ dù đều là Đảng Công sản”.

Đại hội thứ 18 Đảng CS Trung Quốc mới đây không còn đề cập CN Mác – Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông nữa mà chỉ nêu lý luận “ba đại diện” của Giang Trạch Dân và “tư tưởng Đặng Tiểu Bình”.

Tuy vẫn giữ câu “xây dựng XHCN nghĩa đặc sắc Trung Quốc”, nhưng người ta có thể cho rằng XH Trung Quốc hiện nay là XHTB chưa thật đúng nghĩa, còn do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.

Mô hình XHCN kiểu Stalin tỏ ra không thích hợp, kìm hãm sản xuất, kìm hãm phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân trong khí đó một số người lãnh đạo lại hưởng đặc quyền đặc lợi sống như đế vương, độc tài độc đoán dẫn đến Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu xụp đổ. Từ đó, chưa ai đưa ra được mô hình XHCN nào khác.

Việt Nam ta tất yếu phải cuốn theo kinh tế thị trường, nhưng lãnh đạo vẫn lấy CN Mác – Lênin làm cơ sở tư tưởng, vẫn chủ trương xây dựng CNXH. Thử hỏi xây dựng CNXH theo mô hình nào? Trong xã hội ta hiện nay, nội dung gì là XHCN, không ai chỉ ra được. Còn nói phát triển kinh tế thị trường “theo định hướng XHCN”. Cái đuôi “theo định hướng XHCN” thật là mơ hồ, vô nghĩa.

Đã không có mô hình, không có nội dung XHCN, thiết nghĩ chỉ nên nêu “lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nề tảng, xây dựng nước Việt Nam dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như nghị quyết Đảng đa từng ghi, là đúng đắn và khả thi. Không cần nêu CN Mác – Lênin mà “chỉ nêu tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ” vì cái gì ở Mác, ở Lênin mà thích hợp với Việt Nam thì Hồ Chí Minh đã tiếp thu, cũng như những gì là hay, là tốt của thế giới, của đạo Phật, đạo Thiên Chúa, của Khổng Tử, của Tôn Trung Sơn đều đã có trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đã không có nội dung XHCN thì nên lấy lại tên nước là “Việt Nam Dân chủ cộng hòa” là thích hợp.

Sự thật là không có truyền thống hữu nghị Trung – Việt, cũng không có tương đồng ý thức hệ. Thế mà mỗi lần có gặp gỡ cấp cao 2 bên, phía Trung Quốc vẫn nói ngon ngọt nào là trân trọng tình hữu nghị Việt – Trung do Mao chủ tịch và Hồ chủ tịch đã dày công vụn đắp, nào là xử lý bất đồng trên tinh thần “đại cục” quan hệ Trung Việt làm trọng, nào là mọi vấn đề đều có thể thương lượng nội bộ để giải quyết trên tinh thần đồng chí, anh em cùng chung ý thức hệ v.v… Giang Trạch Dân còn “sáng tạo” ra “phương châm 16 chữ và 4 tốt” để phỉnh phở, mê hoặc lãnh đạo ta làm sợi dây vô hình cột Việt Nam vào cỗ xe của họ kéo ta lệ thuộc vào họ.

Những ai có đầu óc thực tế đều thấy rằng hiên nay mối nguy hiểm đối với nước ta không phải đến từ đế quốc Mỹ mà đến từ chủ nghĩa bá quyền bành trướng Đại Hán.

Vấn đề đặt ra đối với nước ta hiện nay là: thoát ra khỏi mọi ràng buộc tham lam, ác ý, thực hiện đường lối chủ trương độc lập tự chủ, thực hiện ngoại giao cân bằng giữa các nước lớn, một mặt không phá bỏ hiện trạng hữu nghị hòa bình với Trung Quốc, mặt khác thắt chặt mối quan hệ hữu nghị với các nước lớn Nga, Nhật, Ấn Độ, Mỹ, cải cách thể chế, thực hiện dân chủ, gắn bó với khối đại đoàn kết dân tộc, trọng dụng hiền tài, xóa bỏ mọi lợi ích nhóm, phe phái quyền lực để đưa đất nước thoát khỏi yếu kém tụt hậu và tiến lên./.
N.T.V.

THÔNG CÁO CỦA NÔNG DÂN VĂN GIANG


THÔNG CÁO CỦA NÔNG DÂN VĂN GIANG


THÔNG CÁO CỦA NÔNG DÂN VĂN GIANG

Nhân 1 năm chính quyền cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật 
tại Xuân Quan – Văn Giang – Hưng Yên.

Văn Giang, ngày 24 tháng 04 năm 2013

Ngày 24/04/2012, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Văn Giang và chính quyền tỉnh Hưng Yên đã huy động lực lượng gồm hàng ngàn người, phần lớn là cảnh sát thực hiện cưỡng chế nhằm thu hồi 5.8 ha đất của 166 hộ dân xã Xuân Quan cho Dự án Ecopark 500 ha của một công ty tư nhân, sử dụng đạn pháo nghiệp vụ với khối lượng lớn để uy hiếp nông dân từ sáng sớm đến trưa, cấm báo chí tiếp cận hiện trường. Nhiều nông dân bị đàn áp, đánh đập, bị bắt, có 02 nhà báo bị đánh đập dã man. Mặc dù vậy, thông tin về vụ cưỡng chế trái pháp luật này đã được những công dân mạng loan khắp Việt Nam và thế giới, dư luận trong nước và quốc tế đã phẫn nộ, lên án cuộc cưỡng chế trái pháp luật này. Ngày 01/05/2012, hàng trăm nhân sĩ, trí thức người Việt đã ký Tuyên bố về việc cưỡng chế giải tỏa đất đai Văn Giang bằng vũ lực, hàng nghìn người trên khắp Việt Nam và từ nhiều nước khác đã ký ủng hộ Tuyên bố này, phản đối việc cưỡng chế bằng vũ lực của chính quyền Văn Giang và tỉnh Hưng Yên.

Sau đó, các hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang  vì Dự án Ecopark (1244 hộ) đã nhờ Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải và nhiều luật sư khác trợ giúp pháp lý cho các hộ dân để khiếu nại tới các cấp chính quyền tại Việt Nam, khởi kiện ra Tòa án.

Từ tháng 05/2012 đến nay, các luật sư đã có trên 10 Kiến nghị và thư gửi các cơ quan có thẩm quyền và liên quan ở Trung ương và địa phương để yêu cầu các cơ quan này cung cấp thông tin, tham gia giải quyết và trả lời những vấn đề thuộc thẩm quyền của họ, trong đó có 02 Kiến nghị gửi trực tiếp cho ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng Chính phủ đồng thời là người ký 02 quyết định quan trọng (số 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004 và số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004, khi ký ông Nguyễn Tấn Dũng là Phó Thủ tướng) liên quan đến việc thu hồi đất tại Văn Giang cho Dự án Ecopark. Hầu hết các cơ quan đã không trả lời những Thư và Kiến nghị trên. Riêng Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT) đã tổ chức đối thoại 01 lần vào ngày 21/08/2012, nhưng cố tình lảng tránh những vấn đề cốt lõi, thậm chí đưa sai những căn cứ pháp lý để giải thích.

Ngày 08/11/2012, ông Giáo sư, tiến sĩ Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng BộTN-MT, người ký 02 Tờ trình của BộTN-MT để tham mưu cho ông Nguyễn Tấn Dũng ký 02 quyết định nêu trên, đã có cuộc đối thoại với chúng tôi và luật sư của chúng tôi. Trong buổi đối thoại này, ông Võ thừa nhận sai và xin lỗi nông dân Văn Giang. Tuy nhiên, sau đó, ông Võ lại bác bỏ ý kiến của mình trong buổi đối thoại, trong đó nêu lý do nhiều người đương chức đã phản ứng gay gắt với ý kiến của ông trong buổi đối thoại.

Gần đây, các luật sư Trần Vũ Hải, Hà Huy Sơn, Lưu Vũ Anh, Nguyễn Anh Vân đã gửi Kiến nghị số 05 ngày 16/01/2013 đến các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam và nhiều Bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền tỉnh Hưng Yên và các cơ quan báo chí đề nghị ông Thủ tướng và các cơ quan chức năng quan tâm giải quyết dứt điểm vụ việc Văn Giang, bố trí lịch gặp đại diện các hộ dân và luật sư. Các luật sư đã liên hệ với nhiều Bộ, ngành để làm việc, nhưng đều chưa có kết quả.

Các hộ dân Văn Giang cũng đã gửi đơn khiếu nại, khởi kiện về việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật đến UBND huyện Văn Giang, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, nhưng các cơ quan này đều không giải quyết theo Luật Khiếu nại, chưa thụ lý theo Luật Tố tụng hành chính.

Chúng tôi cũng đã kiên trì nhiều lần đến các cơ quan dân cử (Quốc hội), Mặt trận và một số cơ quan khác ở Trung ương và huyện Văn Giang, nhưng chưa thấy những vấn đề của chúng tôi được quan tâm, giải quyết.

Đại diện của chúng tôi (luật sư Trần Vũ Hải) đã gặp đại diện của Chủ dự án Ecopark, có vẻ Chủ dự án này cũng muốn giải quyết, nhưng lo ngại chính quyền địa phương không đồng ý thỏa thuận giữa Chủ dự án với các hộ dân.

Trong quá trình đấu tranh, đã diễn ra nhiều vụ va chạm giữa nông dân Văn Giang với một số đối tượng mà theo chúng tôi được một nhóm lợi ích của Dự án Ecopark thuê nhằm dằn mặt những người đấu tranh tích cực của chúng tôi. Đỉnh điểm là ngày 12/07/2012, hàng chục tên côn đồ đã hành hung các ông Lê Thạch Bàn (73 tuổi), ông Đàm Văn Nghiệp (54 tuổi), ông Đàm Văn Đồng (52 tuổi) ở xã Xuân Quan. Cơ quan pháp luật huyện Văn Giang chỉ đưa ra xét xử 06 tên, tách thành 03 phiên xử nhằm che giấu những kẻ thuê họ.

Như vậy, chúng tôi và các luật sư đã sử dụng mọi phương thức đấu tranh pháp lý và hòa bình, nhưng chưa thấy cơ quan có thẩm quyền và liên quan nào tiếp nhận giải quyết vụ việc, mặc dù ai cũng thấy chính quyền huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên rõ ràng sai, hành động chỉ vì lợi ích của một nhúm người liên quan đến dự án Ecopark, bỏ qua quyền lợi và cuộc sống của hàng nghìn hộ nông dân Văn Giang.

Chúng tôi đã kiên nhẫn, tiếp tục kiên nhẫn và sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ quyền căn bản của nông dânquyền người cày có ruộng. Chính vì quyền này, nông dân đã theo tiếng gọi của Đảng, đã gửi nhiều người con chiến đấu và hi sinh cho cách mạng, bảo vệ đất nước.

Chúng tôi kêu gọi lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hãy quan tâm giải quyết vụ việc Văn Giang, nơi chỉ cách chỗ làm việc của các vị chưa đầy 10km. Nếu các vị không quan tâm giải quyết đến một vụ lớn và sát Hà Nội như vậy, đương nhiên người dân sẽ hiểu, những vụ oan sai khác của nông dân địa phương khác sẽ không được Trung ương quan tâm. Liệu niềm tin của nông dân vào Đảng và Nhà nước sẽ còn giữ được không?

Nhân dịp này, chúng tôi cám ơn đồng bào gần xa, báo chí trong nước, các cá nhân, báo chí nước ngoài đã quan tâm đến những vấn đề của chúng tôi, đã lên tiếng ủng hộ chúng tôi, vạch trần và lên án những sai trái của chính quyền địa phương và nhóm lợi ích đã gây ra đối với chúng tôi. Chúng tôi mong mỏi các vị tiếp tục theo dõi và đưa tin về việc giải quyết của chính quyền các cấp ở Việt Nam, ủng hộ tinh thần đấu tranh của nông dân Văn Giang.

Vì công lý, nông dân Văn Giang nhất định bảo vệ được quyền người cày có ruộng!






 

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Tướng Nguyễn Chí Vịnh đang mơ giữa ban ngày


Tướng Nguyễn Chí Vịnh đang mơ giữa ban ngày


NLG bình lựng:
Bài trả lời phỏng vấn
 của báo Tuổi Trẻ ngày 22/4/2013


Như mọi lần, báo TT khéo chọn ngày lễ lớn như Tết hay kỷ niệm  30.4 sắp đến để phỏng vấn Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, một ngôi sao sáng chói trong lĩnh vực đối ngoại về quốc phòng với lối ăn nói hết sức lưu loát và lập luận khá chặt chẽ. Khác với những phát biểu trước(*), lần này tướng Vịnh hoàn toàn không đề cập đến vấn đề chủ quyền của VN đối với hai quần đảo HS-TS đang bị TQ triển khai mở rộng mọi mặt, quân sự lẫn dân sự (trá hình) theo kế hoạch xác lập chủ quyền của chúng trên biển Đông theo chiếc lưỡi bò ham hố, ngang nhiên xem biển Đông là ao nhà với"quyền lợi cốt lõi", hăm he sẵn sàng ra tay "chiến đấu" để "bảo vệ vùng biển thiêng liêng của dân tộc Trung Hoa" như Tập Cận Bình tuyên bố gần đây trong chuyến thăm ngư dân và căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam. Nói khác đi, tướng Vịnh cố tình "xem như không biết" động thái này, có thể BBT báo TT đã không dám (hay né tránh) đặt câu hỏi hóc búa về những hoạt động ngang nhiên xâm phạm chủ quyền của VN và Philippines trong những tháng gần đây, giúp tướng Vịnh không rơi vào một thế kẹt, chọc giận người anh cả đỏ láng giềng tham lam"thâm căn cố đế"? Mặt khác, trong cuộc trả lời phỏng vấn này, chúng ta cũng không nghe tướng Vịnh đề cập đến chiến lược quay lại Châu Á của Hoa Kỳ, xem đây là động thái gây bất ổn cho khu vực theo quan điểm của TQ như lần trả lời phỏng vấn trước. Một  thay đổi về nhận thức, hướng đến một sự cải thiện quan hệ “đối tác” Việt-Mỹ hay chỉ là một cách cân đối chiến thuật trong thế cờ “kẹt” giữa Mỹ và Trung quốc ?

 Về vịnh Cam Ranh, tướng Vịnh vẫn nhắc lại điều mà TQ mong muốn nhất, ngỡ rằng như thế là “khôn ngoan” nhưng vô tình đã đánh mất lợi thế địa chính trị và quân sự vô cũng quan trọng mà thiên nhiên đã ban tặng cho dân tộc Việt Nam đối với biển Đông. Lẽ ra chúng ta cần thông minh hơn nếu chủ động kêu gọi lập ra một tổ chức(hay  liên minh) quốc tế đa phương--với thành phần các nước có liên quan trọng khu vực Châu Á-TBD—để bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch qua lại trên vùng biển rộng lớn này lấy Cam Ranh làm trung tâm quốc tế giám sát và điều phối, ngăn chận mọi khả năng xung đột quân sự hay bá quyền nước lớn trong khu vực mang âm mưu độc chiếm biển Đông. Với lối tư duy sợ sệt, "ăn theo" những lập luận cũ rích như hiện nay chẳng có ai lên tiếng công khai ủng hộ quan điểm "HS-TS là của VN" [vì họ chẳng muốn vì VN mà phải đóng cửa với TQ hoặc bị TQ cô lập, phong tỏa kinh tế...] trong khi VN chẳng có vai trò gì tích cực chủ động trong cộng đồng quốc tế, và hệ quả có thể thấy trước là VN không những chẳng gìn giữ được phần còn lại của quần đảo Trường Sa mà còn bó tay trước những đe dọa ngày càng trắng trợn của các lực lượng hiếu chiến. Phải chăng chúng ta cần chủ động gấp rút xây dựng một cơ cấu hợp tác chiến lược với cộng đồng quốc tế về vấn đề an ninh hàng hải? Chỉ có như thế, chúng ta mới có thể vừa bảo vệ chủ quyền HS-TS, vừa dùng cơ chế giám sát quốc tế này làm đòn bẩy để ngăn chận Trung quốc lấn chiếm, bắt bớ ngư dân đánh bắt trong vùng biển thuộc chủ quyền VN và đe dọa an ninh , hoạt động khai thác dầu mỏ, khí đốt  của chúng ta ở thềm lục địa theo UNCLOS 1982.

Thật đáng thất vọng khi nghe tướng Vịnh một mặt tuyên bố rất cởi mở rằng” chúng ta phải thông tin đầy đủ, khách quan về tình hình đất nước cho người dân, cả về những thuận lợi cũng như khó khăn để tạo sức mạnh đồng thuận. Cơ chế thị trường tác động đến con người theo nhiều chiều khác nhau, tích cực và tiêu cực, một mặt chúng ta phải chấp nhận đặc điểm ấy của sự phát triển và hội nhập, mặt khác chúng ta phải công khai, minh bạch để người dân có định hướng đúng”, mặt khác thì thông tin về TQ có thật là "đầy đủ","khách quan" không? Mong rằng đây không  là lời  nói mị dân thưa Thượng tướng ? Vậy thì xin hỏi sách lược của chúng ta đối với những hoạt động hiếu chiến của TQ sao không thấy Ông cho biết, không hề nghe bộ quốc phòng nước ta lên tiếng trước những phát biểu hăm dọa của Tập Cận Bình hay thái độ đe nẹt láo xược qua chiếc loa của người phát ngôn chính phủ hay bộ quốc phòng TQ ? 

Tin đồn rằng VN muốn máy bay thám thính hiện đại P-3C Orion của Hoa Kỳ để chống tàu ngầm của TQ là hư hay thật ? Nếu là sự thật thì rõ ràng VN đang có khuynh hướng muốn thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của 16 chữ vàng ? Hay chỉ là tin đồn nhảm trong động tác giả của nhà cầm quyền. Và cuối cùng là liệu cuộc đàm phán về COC giữa ASEAN và TQ sẽ có kết quả hay chỉ là đòn phép của TQ để tách các nước ASEAN khỏi bó đũa “đoàn kết” và cô lập VN trong vấn đề chủ quyền lãnh hải mà Hun Sen là tên giặc xung kích của chiến lược bảo vệ cái gọi là quyền lợi cốt  lõi của TQ trên biển Đông. 

Trong tư tưởng đại Hán của nhà cầm quyền Bắc Kinh làm gì có cái gọi là ” luật pháp quốc tế (và) bình đẳng giữa các quốc gia”(**) như Tướng Vịnh nói (có phát biểu giùm cho Bắc Kinh không đấy), xin chớ nuôi  mộng giữa ban ngày !